Thành viên trực tuyến

4 khách và 0 thành viên

Bài dạy Mĩ Thuật

Tài nguyên dạy học

Hỗ trợ trực tuyến

  • (Phan Quốc Tuấn)

Bách khoa toàn thư

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang web chúng tôi xây dựng như thế này có được không?
Đẹp
Bình thường
Đơn điệu
Ý kiến khác

Việt Hán Nôm 越漢喃

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    Thu_quyen_ru.swf Down_on_the_farm__Bai_hat_thieu_nhi_tieng_Anh.swf Truyen_cay_tre_tram_dot41.swf Than_sat5.swf Su_tich_dua_hau3.swf Qua_tao15.swf Ngay_va_dem14.swf Ke_chuyen_Qua_bau_tien1.swf Hoa_mao_ga13.swf Gau_con_chia_qua12.swf Cu_cai_trang11.swf Co_be_quang_khan_do10.swf Chu_vit_xam9.swf Cao_tho_va_ga_trong7.swf Bac_gau6.swf Mauchuvietbangchuhoadung.png EmoiHN_PHO.swf Thiep_chuc_tet_tang_thay_Kieu.swf Thu_sau__XUAN_CA.swf

    TIN TỨC

    Tra cứu

    Diễn Đàn QA 1

    Tàng thư

    Facebook

    Gốc > Chuyện chữ nghĩa >

    CÂU ĐỐI

    (từ điển mở)
    Câu đối thuộc thể loại văn biền ngẫu, gồm hai vế đối nhau nhằm biểu thị một ý chí, quan điểm, tình cảm của tác giả trước một hiện tượng, một sự việc nào đó trong đời sống xã hội. Nên lưu ý là từ đối (對) ở đây có nghĩa là ngang nhau, hợp nhau thành một đôi. Câu đối là một trong những thể loại của Văn học Trung Quốc và Việt Nam.

    Nguồn gốc
    Câu đối có nguồn gốc từ người Trung Quốc. Người Trung Quốc gọi câu đối là đối liên (對聯) nhưng tên gọi xưa của nó là đào phù (桃符).

    Câu đối được xem là "tinh hoa" của văn hóa chữ Hán, người Trung Quốc quan niệm: "nếu thơ văn là tinh hoa của chữ nghĩa thì câu đối là tinh hoa của tinh hoa"[1].

    Đối liên có lịch sử ra đời cách đây khoảng 3000 năm, nhưng theo Tống sử Thục thế gia (宋史蜀世家), câu đối đầu tiên được ghi lại do chính chúa nhà Hậu Thục (934-965) là Mạnh Sưởng viết trên tấm gỗ đào vào năm 959[2].

    Nguyên bản:
    新年納餘慶
    嘉節號長春 Phiên âm:
    Tân niên nạp dư khánh
    Gia tiết hiệu trường xuân Dịch thơ:
    Năm mới thừa chuyện vui
    Tiết đẹp xuân còn mãi


    Những nguyên tắc của câu đối
    Khi viết câu đối, nếu chọn được câu chữ tuân theo nguyên tắc sau thì đôi câu đối được gọi là chỉnh đối hay đối cân.


    Đối ý và đối chữ
    Đối ý: hai ý đối phải cân nhau mà đặt thành 2 câu sóng nhau.
    Đối chữ: phải xét 2 phương diện thanh và loại.
    - Về thanh: thanh bằng đối với thanh trắc và ngược lại.
    - Về loại: thực tự (hay chữ nặng như: trời, đất, cây...) phải đối với thực tự; hư tự (chữ nhẹ như: thì, mà, vậy, ru...) phải đối với hư tự; danh từ phải đối với danh từ, động từ phải đối với động từ; nếu vế đối này có đặt chữ Nho thì vế kia cũng phải đặt chữ Nho...

    Vế câu đối
    Một đôi câu đối gồm hai câu đi song nhau, mỗi câu là một vế. Nếu câu ấy từ một người sáng tác gọi là vế trên và vế dưới. Nếu một người nghĩ ra một vế để người khác làm vế kia thì gọi là vế ra và vế đối.

    Khi một câu đối do một người làm ra cả hai vế, thì chữ cuối, vế trên, câu bên phải (khi treo) là thanh trắc; còn chữ cuối, vế dưới, câu bên trái là thanh bằng.


    Số chữ và các thể câu đối
    Số chữ trong câu đối không nhất định, theo số chữ và cách đặt câu có thể chia câu đối ra làm các thể sau:

    Câu tiểu đối: là những câu 4 chữ trở xuống.
    Câu đối thơ: là những câu làm theo lối đặt câu của thể thơ ngũ ngôn hoặc thất ngôn.
    Câu đối phú: là những câu làm theo các lối đặt câu của thể phú, gồm có:
    - Lối câu song quan: là những câu 6 đến 9 chữ, đặt thành một đoạn liền
    - Lối câu cách cú: là những câu mà mỗi vế chia làm 2 đoạn, một đoạn ngắn, một đoạn dài
    - Lối câu gối hạc hay hạc tất: là những câu mỗi vế có 3 đoạn trở lên.

    Luật bằng trắc
    Câu tiểu đối:
    - Vế phải: trắc-trắc-trắc
    - Vế trái: bằng-bằng-bằng
    Câu đối thơ: phải theo đúng luật bằng trắc của hai câu thực và câu luận trong lối thơ ngũ ngôn hoặc thất ngôn.
    Câu đối phú: Chữ cuối mỗi vế và chữ cuối mỗi đoạn phải bằng đối với trắc hoặc trắc đối với bằng. Khi mỗi vế đối có từ 2 đoạn trở lên thì nếu chữ cuối vế là trắc, các chữ cuối các đoạn trên phải là bằng và ngược lại. Nếu đoạn đầu hoặc đoạn dưới có đúng 7 chữ thì đoạn ấy thường theo luật thơ thất ngôn.

    Phân loại câu đối

    Câu đối Trung Quốc
    Người Trung Quốc phân loại câu đối theo cách dùng và đặc điểm nghệ thuật:


    Phân loại theo cách dùng
    Xuân liên (春聯): Câu đối xuân, chuyên dùng vào dịp Tết, gắn ở cửa.
    Doanh liên (楹聯): Câu đối treo ở cột trụ, dùng trong nhà, cơ quan, cung điện của vua và những nơi cổ kính.
    Hạ liên (賀聯): Câu đối chúc mừng, thường được dùng để chúc thọ, chúc sinh nhật, hôn giá, thăng quan tiến chức, có con, khai nghiệp v.v.
    Vãn liên (挽聯): Câu đối than vãn, dùng trong lúc ai điệu tử vong.
    Tặng liên (贈聯): Dùng để tán thán, đề cao hoặc khuyến khích người khác.
    Trung đường liên (中堂聯): Câu đối dùng để treo ở những khách đường lớn, chỗ nhiều người lưu ý, và được phối hợp với bút hoạch (thư pháp).

    [sửa] Phân loại theo đặc điểm nghệ thuật
    Điệp tự liên (疊字聯): Một chữ xuất hiện liên tục.
    Phức tự liên (複字聯): Hai vế có chữ giống nhau nhưng không xuất hiện một cách trùng phức liên tục.
    Đỉnh châm liên (頂針聯): Chữ nằm phần đuôi của câu đầu lại là chữ đầu của câu sau.
    Khảm tự liên (嵌字聯): Bao gồm số, phương vị, tiết khí, niên hiệu, họ người, nhân danh, địa danh, vật danh (ví như tên thuốc) v.v.
    Xích (sách) tự liên (拆字聯): Mỗi hợp thể tự bên trong câu đối tách thành bao nhiêu chữ đơn thể, có người phân ra tinh tế hơn nữa là mở chữ ra (xích tự 拆字), hợp chữ lại (hợp tự 合字), tách chữ ra (tích tự 析字) v.v.
    Âm vận liên (音韻聯): Bao gồm đồng âm dị tự, đồng tự dị âm cùng với điệp vận.
    Hài thú liên (諧趣聯): Hàm dung ý nghĩa khôi hài, ẩn kín.
    Vô tình đối (無情對): Ý nghĩa trên dưới không tương quan một mảy may nào, chỉ chỉnh những chữ, từ. Phần lớn Vô tình đối này ít thấy ý vị, hoàn toàn có thể quy nhập vào Hài thú liên bên trên.
    Hồi văn liên (回文聯): Đọc xuôi (thuận độc 順讀) hay đọc ngược (đảo độc 倒讀) ý tứ hoàn toàn như nhau.

    Câu đối Việt Nam
    Câu đối Việt Nam được Dương Quảng Hàm phân loại theo ý nghĩa, gồm các loại sau:

    Câu đối mừng: làm để tặng người khác trong những dịp vui mừng như: mừng thọ, mừng thi đỗ, mừng đám cưới, mừng nhà mới...
    Nhất cận thị, nhị cận giang, thử địa khả phong giai tị ốc.
    Sống ở làng, sang ở nước, mừng ông nay lại vểnh râu tôm
    (Nguyễn Khuyến, viết mừng một chánh tổng trước bị cách chức, sau được phục sự và làm nhà mới.)
    Câu đối phúng: làm để viếng người chết.
    Nhà chỉn rất nghèo thay, nhờ được bà hay lam hay làm, thắt lưng bó que, xắn váy quai cồng,
    tất tưởi chân nam chân chiêu, ví tớ đỡ đần trong mọi việc
    Bà đi đâu vợi mấy, để cho lão vất vơ vất vưởng, búi tóc củ hành, buông quần lá toạ,
    gật gù tay đũa tay chén, cùng ai kể lể chuyện trăm năm.
    (Nguyễn Khuyến: câu đối khóc vợ)
    Câu đối Tết: làm để dán nhà, cửa, đền, chùa...về dịp Tết Nguyên Đán.
    Chiều ba mươi, nợ hỏi tít mù, co cẳng đạp thằng Bần ra cửa.
    Sáng mồng một, rượu say tuý luý, giơ tay bồng ông Phúc vào nhà.
    (Nguyễn Công Trứ, câu đối làm vào dịp tết lúc còn hàn vi.)
    Câu đối thờ: là những câu tán tụng công đức tổ tiên hoặc thần thánh làm để dán hoặc treo những chỗ thờ.
    Tuế hữu tứ thời xuân tại thủ.
    Nhân ư bách hạnh hiếu vi tiên.
    (Dịch nghĩa: Năm có bốn mùa, mở đầu bằng mùa xuân. Người ta có trăm tính nhưng tính hiếu thảo là cần trước hết) hoặc:
    Mở rộng phương Tiên, công tế thế cao bằng Thái lĩnh
    Sống nhờ của Phật, ơn cứu người rộng tựa Cẩm Giang
    (Câu đối thờ Tuệ Tĩnh ở đền Bia)
    Tùng thanh, trúc thanh, chung khánh thanh, thanh thanh tự tại.
    Sơn sắc, thủy sắc, yên hà sắc, sắc sắc giai không.
    (Câu đối khắc ở chùa Diệu Đức, Huế).
    Câu đối tự thuật: là những câu kể ý chí, sự nghiệp của mình và thường dán ở những chỗ ngồi chơi.
    Chị em ơi! ba mươi sáu tuổi rồi, khắp đông, tây, nam, bắc bốn phương trời, đâu cũng lừng danh công tử xác.
    Trời đất nhẻ! gắng một phen này nữa, xếp cung, kiếm, cầm thư vào một gánh, làm cho nổi tiếng trượng ềnh
    (Nguyễn Công Trứ, câu đối tự thuật)
    Câu đối đề tặng: là những câu đối làm ra để đề vào chỗ nào đó hoặc tặng cho người khác.
    Nếu giầu quen thói kình khơi, con cháu nương nhờ vì ấm
    Việc nước ra tay chuyên bát, bắc nam đâu đấy lại hàng
    (Lê Thánh Tông, câu đối đề ở một hàng bán giầu (trầu) nước)
    Câu đối tức cảnh: là những câu tả ngay cảnh trước mắt.
    Giơ tay với thử trời cao thấp
    Xoạc cẳng đo xem đất ngắn dài
    (Hồ Xuân Hương, vịnh cảnh trượt chân, ngã xoạc cẳng)
    Câu đối chiết tự (chiết: bẻ gãy, phân tách; tự: chữ): là những câu do sự tách chữ Hán hoặc chữ Nôm ra từng nét hoặc từng phần mà đặt thành câu.
    Tự (字) là chữ, cất giằng đầu, chữ tử (子) là con, con ai con nấy?
    Vu (于) là chưng, bỏ ngang lưng, chữ đinh (丁) là đứa, đứa nào đứa này?
    Câu đối trào phúng: là những câu làm để chế diễu, châm chích một người nào đó.
    Cung kiếm ra tay, thiên hạ đổ dồn hai mắt lại.
    Rồng mây gặp hội, anh hùng chỉ có một ngươi thôi
    (Câu đối tặng một người chột mắt mới đỗ khoa thi võ)
    Câu đối tập cú: là những câu lấy chữ sẵn ở trong sách hoặc ở tục ngữ, ca dao.
    Gái có chông như rồng có vây, gái không chồng như cối xay không ngõng.
    Con có cha như nhà có nóc, con không cha như nòng nọc đứt đuôi.
    Câu đối thách (đối hay đố): người ta còn nghĩ ra những câu đối oái ăm, cầu kỳ rồi người ta tự đối lấy hoặc thách người khác đối. Lối đối này thường sử dụng nghệ thuật chơi chữ, đồng âm dị nghĩa...
    Con cóc leo cây vọng cách, nó rơi xuống cọc, nó cạch đến già
    Con công đi qua chùa kênh, nó nghe tiếng cồng nó kềnh cổ lại
    (Câu đối có bốn chữ : cóc cách cọc cạch đối với bốn chữ công kênh cồng kềnh)
    Có những vế câu đối rất khó đối như:

    Cha con thầy thuốc về quê, gánh một gánh hồi hương, phụ tử.
    Vế này khó đối vì hồi hương (cũng có nghĩa "về quê") và phụ tử (cũng có nghĩa "cha con") đồng thời lại là tên gọi các vị thuốc.
    Vào vụ đông trường nam bón phân bắc trồng khoai tây, Sang xuân hạ quyết tâm thu hàng tấn củ.
    Vế này cũng khó đối vì đông, tây, nam, bắc (chỉ hướng địa lý) và xuân, hạ, thu, đông (chỉ các mùa ở Việt Nam)
    Da trắng vỗ bì bạch
    Vế đối này của Đoàn Thị Điểm, hiện nay, có khá nhiều người đối nhưng chưa chỉnh, câu đối đã được đăng ở quyển Thế giới mới được coi là tạm ổn nhất.
    Câu này là "Tay sơ sờ tí ti" có thể coi là được chăng,câu này có trong "Thế giới mới" Tí cũng là tay, tí ti là một chút xíu, cũng là một từ láy âm tay sơ là tay còn trong sạch, nguyên vẹn. Xin đóng góp thêm một câu đối về câu: "da trắng vỗ bì bạch" "rừng sâu mưa lâm thâm" hay "trời xanh màu thiên thanh"


    Tham khảo
    ^ Mùa xuân nói chuyện câu đối
    ^ Năm 959
    Tiếng chuông chùa
    Peach Wood Charms and Spring Festival Couplets
    Câu đối Tết
    Giai Thoại Văn Chương
    Văn học Việt Nam-tác giả Dương Quảng Hàm; Trung tâm học liệu xuất bản năm 1939.

    Xem Thêm
    Câu Đối Sưu Tầm,
    Bộ Sưu Tầm Câu Đối Viet Nam

    ***

    Câu đối Việt

    --------------------------------------------------------------------------------

    "Ai công hầu, ai khanh tướng, trong trần ai, ai dễ biết ai" -- (Đặng Trần Thường - Tướng của Chúa Nguyễn Ánh)
    "Thế Chiến quốc, Thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế" --(Ngô Thì Nhậm - Tướng của Chúa Nguyễn Huệ)

    --------------------------------------------------------------------------------

    "Da trắng vỗ bì bạch" -- (Đoàn Thị Điểm)
    "Rừng sâu mưa lâm thâm" -- (Không rõ)
    "Quạ vàng đội kim ô" --(Không rõ
    "Tay tơ sờ tí ti"

    --------------------------------------------------------------------------------

    "Tùng thanh, trúc thanh, chung khánh thanh, thanh thanh tự tại".
    "Sơn sắc, thủy sắc, yên hà sắc, sắc sắc giai không". -- (Câu đối khắc ở chùa Diệu Đức, Huế).

    --------------------------------------------------------------------------------

    "Quá quan trì, quan quan bế, nguyện quá khách quá quan"
    "Xuất đối dị, đối đối nan, thỉnh tiên sinh tiên đối"
    "Qua cửa ải trễ, cửa quan đóng, mời khách qua đường qua cửa quan". --(Đây là vế ra câu đối của quan giữ ải Phong Luỹ, Trung Quốc)
    "Ra câu đối dễ, đối câu đối khó, mời tiên sinh đối trước". --(Đây là câu đối lại của sứ thần Việt, trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi)

    --------------------------------------------------------------------------------

    "Mỹ nhân như ngọc, hành vũ, hành phong, anh linh mặc trắc".
    "Tế thế kỳ âm, hộ dân, hộ quốc, thướng lai vô cùng." Nguyễn Khuyến --(Vế đối đề tại Đền thờ Thánh Mẫu Làng Cổ Ngựa, Xã Hiền Khánh, Huyện Vụ Bản, Nam Định)

    --------------------------------------------------------------------------------

    "Đồng trụ chí kim đài dĩ lục"
    "Đằng giang tự cổ huyết do hồng"
    "Cột đồng đến nay rêu đã xanh". -- (vua Sùng Trinh nhà Minh)
    "Sông Đằng từ xưa máu còn đỏ". -- (Giang Văn Minh: sứ thần Đại Việt)

    --------------------------------------------------------------------------------

    "Tứ thời bát tiết canh chung thủy" - (Bốn mùa, tám tiết luôn chung thủy)
    "Ngạn liễu đôi bồ dục điểm trang" - (Dặm liễu, gò bồ muốn điểm trang). -- Câu đối viết cho góa phụ bán thịt lợn)Nguyễn Khuyến

    --------------------------------------------------------------------------------

    "Chí khí quán sơn hà, Việt Nam anh hùng duy hửu nhất"
    "Minh Tinh quang vũ trụ, Á Âu hào kiệt thị vô song" -- (Câu đối do Mao Trạch Đông tặng chủ tịch Hồ Chí Minh)
    "Chiều ba mươi, nợ hỏi tít mù, co cẳng đạp thằng Bần ra cửa."
    "Sáng mồng một, rượu say tuý luý, giơ tay bồng ông Phúc vào nhà." -- (Nguyễn Công Trứ, câu đối làm vào dịp tết lúc còn hàn vi.)

    --------------------------------------------------------------------------------

    "Tự (字) là chữ, cất giằng đầu, chữ tử (子) là con, con ai con nấy? "
    "Vu (于) là chưng, bỏ ngang lưng, chữ đinh (丁) là đứa, đứa nào đứa này?" -- (Câu đối khắc ở chùa Diệu Đức, Huế).

    --------------------------------------------------------------------------------

    "Cung kiếm ra tay, thiên hạ đổ dồn hai mắt lại".
    "Rồng mây gặp hội, anh hùng chỉ có một ngươi thôi . "-- (Câu đối tặng một người chột mắt mới đỗ khoa thi võ)

    --------------------------------------------------------------------------------

    "Con cóc leo cây vọng cách, nó rơi xuống cọc, nó cạch đến già "
    Con công đi qua chùa kênh, nó nghe tiếng cồng nó kềnh cổ lại . -- (Câu đối có bốn chữ : cóc cách cọc cạch đối với bốn chữ công kênh cồng kềnh)

    --------------------------------------------------------------------------------

    "Vũ vô kiềm tỏa, năng lưu khách"
    "Sắc bất ba đào, dị nịch nhân" --(Không biết tác giả)
    "Mưa, dù không xích không khóa, cũng có thể giữ chân khách ở lại"
    "Sắc đẹp, dù chẳng phải sóng gió, cũng dễ làm cho người ta chìm đắm"

    --------------------------------------------------------------------------------

    "An Nam nhất thốn thổ, bất tri kỷ nhân canh" -Sứ thần Trung Quốc
    "Bắc quốc chư đại phu, giai do thử đồ xuất" -Bà Đoàn thị Điểm
    "An Nam có một tấc đất, không biết bao nhiêu người cày)"
    "Các đại phu nước phương Bắc, đều do từ chỗ ấy mà ra)"

    --------------------------------------------------------------------------------

    "Trướng nội vô phong phàm tự lập" -Đoàn Thị Điểm
    "Hưng trung bất vũ thuỷ trường lưu" -Trạng Quỳnh
    "Trong trướng không có gió mà sao cột buồm dựng lên"
    "Trong bụng không có mưa mà nước vẫn chảy"

    --------------------------------------------------------------------------------

    "Chí khí tráng sơn hà, cứu quốc anh hùng duy hữu nhất"
    "Minh tinh quan vũ trụ, Á Âu hào kiệt thị vô song"
    (Đôi câu đối song đầu này do Mao Trạch Đông viết tặng Hồ Chí Minh. Hai chữ đầu hai vế đối là tên Hồ chủ tịch


    --------------------------------------------------------------------------------

    "Vợ cả, vợ hai, hai vợ đều là vợ cả."
    "Chồng tất, chồng vớ, hai chồng đều là chồng tất."
    "Con nuôi, con để, để nuôi (há) cậy con nuôi." (không rõ)

    --------------------------------------------------------------------------------

    "Dưới nước cá đớp cá" -- Vua Tran
    "Trên bờ người trói người" -- Trạng Huỳnh

    --------------------------------------------------------------------------------

    "Gạo trắng nước trong, mến người lại thêm mến cả..."
    "Cát lầm gió bụi, lo đời đâu đấy hảy lo cho..."

    --------------------------------------------------------------------------------

    "Nợ vướng nợ, nợ càng thêm nợ"
    "Tình vương tình, tình vấn vương tình"
    "Đời là thế , Đời vẩn là Đời"

    --------------------------------------------------------------------------------

    "Miệng nhà quan có gang có thép
    "Đồ nhà khó vừa lọ lại vừa thâm"

    --------------------------------------------------------------------------------

    Xuân, Hạ, Thu, Đông đủ bốn mùa
    Mai, Lan, Cúc, Trúc đủ bốn hoa

    --------------------------------------------------------------------------------

    "Thầy giáo tháo giày, tháo ủng, thủng áo, lấy giáo án dán áo ;"
    "Nhà trường nhường trà, nhường hoa, nhoà hương, đem lương hưu lưu hương." ( 1 vế của Văn Như Cương)

    --------------------------------------------------------------------------------

    "Chị em ơi! ba mươi sáu tuổi rồi. Khắp đông, tây, nam, bắc bốn phương trời, đâu cũng lừng danh công tử xác. "
    "Trời đất nhẻ! gắng một phen này nữa . Xếp cung, kiếm, cầm thư vào một gánh, làm sao nổi tiếng đấng trượng phu ." -- (Nguyễn Công Trứ, câu đối tự thuật)


    "Gái Củ Chi, chỉ cu hỏi củ chi ?
    "Trai Thủ Dức, thức đủ xin thủ đức"

    Liên kết ngoài
    CÂU ĐỐI VIỆT NAM – BIỂU TƯỢNG NHỊP CẦU GIAO LƯU VĂN HÓA VIỆT–TRUNG - Tác giả: Nguyễn Thiện Chí
    " Chí khí tráng sơn hà, cổ kim anh hùng duy hữu nhất. minh tinh quang nhật nguyệt, Á Âu hào kiệt thị vô song "

    " Vũ vô kiềm tỏa năng lưu khách. Sắc bất ba đào dị nich nhân" : không có dấu phẩy giữa câu. --> mưa không giữ chân được khách (nếu đã không muốn ở) Sắc đẹp không cần bão tố, mưa gió (đơn giản hơn nhiều) nhưng níu giữ được người.

    ***
    Câu đối ngày xuân Câu đối chắc chắn có nguồn gốc từ bên Tàu. Nó vốn là một thứ "đặc sản thượng hạng" của văn hóa chữ Hán. Người Trung Quốc quan niệm: nếu thơ văn là tinh hoa của chữ nghĩa thì câu đối là tinh hoa của tinh hoa.


    Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ,
    Nêu cao, tràng pháo, bánh chưng xanh.

    Đó là đặc trưng Tết của người Việt xưa ở miền Bắc - cái nôi của văn hóa Việt.

    Các nhà nghiên cứu đã đề cập không ít đến nguồn gốc và ý nghĩa của xuất xứ của sáu thứ/món trên. Ở đây tôi chỉ xin "lan man" một chút về chuyện câu đối và nhất là câu ngày xuân.



    Câu đối chắc chắn có nguồn gốc từ bên Tàu. Nó vốn là một thứ "đặc sản thượng hạng" của văn hóa chữ Hán. Người Trung Quốc quan niệm: nếu thơ văn là tinh hoa của chữ nghĩa thì câu đối là tinh hoa của tinh hoa.

    Người Trung Quốc gọi câu đối là đối liên, nhưng tên gọi xưa của nó là đào phù-vốn có nghĩa gốc từ tấm ván (phù) bằng gỗ đào được treo trước cửa để xua đuổi ma quỷ. Nhà thơ Vương An Thạch đời Tống có mấy câu thơ rất nổi tiếng trong bài Nguyên Nhật:

    Pháo trúc thanh trung nhất tuế dư,
    Xuân phong tống noãn nhập đồ tô.
    Thiên môn vạn hộ đồng đồng nhật,
    Tổng ba tân đào hoán cựu phù.

    Mấy câu thơ như vẽ nên cảnh sắc rộn ràng ngày Tết: Trong tiếng pháo rộn ràng, trong ánh nắng Xuân đang tràn khắp dương gian, cả ngàn vạn gia đình cùng gỡ câu đối cũ treo trước cửa nhà mình để thay bằng cặp câu đối mới.

    Vậy câu đối có từ bao giờ? Theo sách "Tống sử-Thục thế gia", thì câu đối đầu tiên được chính chúa nước Thục là Mạnh Sưởng viết trên tấm gỗ đào vào năm 959:

    Tân niên nạp dư khánh,
    Gia tiết hiệu trường xuân

    (Năm mới thừa chuyện vui, tiết đẹp Xuân còn mãi).

    Các nhà nghiên cứu cũng cho rằng đây là câu đối xuân đầu tiên của Trung Quốc, một câu đối thật hay và đầy khí sắc với những từ mô tả mùa xuân: Tân niên (hai chữ đầu), Tân xuân (chữ đầu và chữ cuối), Gia tiết (hai chữ đầu câu sau)...

    Nguyên tắc quan trọng nhất của câu đối dĩ nhiên là tính đối ngẫu. Hai vế trong câu đối phải đối xứng cân bằng với nhau từ số lượng từ, thanh âm đến ý nghĩa. Nếu câu đối luôn cố định là số chẳn (2 vế đối nhau của một câu) tức số âm thì số lượng chữ trong vế đối thường là số lẻ, tức số dương và có thể thay đổi. Cũng có khi số chữ trong vế đối là số chẳn, nhưng không nhiều. Một câu đối được xem là chuẩn mực mà các bậc túc nho thường nêu ra làm mẫu là câu đối của Trần Hậu Chủ viết khi lên Mang Sơn cùng Tùy Văn Đế:

    Nhật nguyệt quang thiên đức,
    Sơn hà tráng đế cư.

    (Nhật nguyệt sáng đức trời, núi sông ân (vua) nhuần thấm).

    Đến thời Đường, do sự phát triển chặt chẽ của niêm luật thi ca nên dường như trong mỗi bài thơ đều là những cặp đối. Như đọc bài Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu thì dường như ta cảm thấy đó là 4 cặp đối khá chỉnh, chẳng hạn như cặp câu kết:

    Nhật mộ hương quan hà xứ thị
    Yên ba giang thượng sử nhân sầu

    (Quê hương giờ biết nơi đâu nhỉ, khói sóng mù sông khiến người buồn)

    Câu đối có nhiều thể loại: câu đối xuân, câu đối mừng hỉ sự (đám cưới, thăng chức, mừng tân gia, mừng thọ...), câu đối viếng đám tang, câu đối đề trên danh lam, cổ tích.vv.. Câu đối xuân vẫn được xem là một trong những nét văn hóa đặc trưng nhất của người Hán.

    Do tính chất đặc biệt-mừng năm mới, mừng xuân-nên câu đối xuân có chủ đề nổi bật là “cát tường như ý” mà hoàn toàn không phụ thuộc vào thành phần giai tầng xã hội hay gia cảnh của chủ nhân. Vào dịp đầu năm mới, người Trung Quốc nào cũng đều mong xin được một câu đối hay để về dán trước cửa nhà mình. Bởi vậy, cứ dịp Tết đến xuân về là các nhà thư pháp lại hết sức bận rộn cho công việc viết chữ, cho câu đối. Truyền thuyết kể rằng, “Thư thánh”(bậc thánh về thư pháp) Vương Hy Chi đời Tống là một trong những người được thiên hạ ái mộ nhất về chữ nghĩa nên cứ mỗi độ xuân về là người ta lại đổ xô đến xin chữ của ông. Tết năm nọ, vào đêm trừ tịch ông cho người nhà dán lên trước cửa câu đối:

    Xuân phong xuân vũ xuân sắc
    Tân niên tân tuế tân cảnh

    (Gió xuân mưa xuân sắc xuân, Năm mới tuổi mới cảnh mới)

    Chẳng dè chỉ được một lúc đã bị người ta gỡ trộm mất. Nghe tin ông bèn thuận bút viết luôn một câu khác:

    Oanh đề bắc lý
    Yến ngữ nam giao

    (Chim oanh hót ở phía bắc, chin én kêu ở phía nam-ý nói báo mùa xuân về)

    Nhưng câu đối này mới đem dán lên được một lúc cũng không cánh mà bay. Nghe tin, Vương Hy Chi nổi giận một hồi. Nguôi giận, ông bèn viết một câu đối khác nhưng đêm cắt đôi mỗi vế và cho dán lại trước cửa:

    Phúc vô song chí
    Họa bất đơn hành

    (Phúc không bao giờ cùng đến, Họa lại chẳng bao giờ đến một mình-tương tự thành ngữ: Phúc bất trùng lai, họa vô đơn chí mà người Việt hay dùng).

    Câu đối rất chỉnh, chữ viết đẹp xuất thần nhưng nội dung lại hoàn toàn không phải chuyện cát tường dành cho năm mới nên không ai dám gỡ. Sáng hôm sau, nghe người nhà báo câu đối vẫn còn nguyên, Vương Hy Chi mới vuốt râu cười và cho dán thêm hai nửa vế đối còn lại để thành một câu đối xuân hoàn chỉnh:

    Phúc vô song chí kim triêu chí
    Họa bất đơn hành tác dạ hành

    (Phúc không bao giờ cùng đến nhưng sáng nay đã đến, Họa chẳng bao giờ đến một thì đêm qua đã đến một rồi)

    Đêm ba mươi tết bị một Họa nhưng sáng mùng một xuân lại có đến hai Phúc viếng thăm. Qủa là một câu đối tuyệt vời cho năm mới!

    Thời Thanh, người Tàu còn truyền tụng một câu đối xuân rất hay của Ái La Giác Tân (người Mãn Thanh):

    Trúc ảnh hoành song tri nguyệt thướng
    Hoa hương nhập hộ giác xuân lai

    (Bóng trúc ngang cửa sổ biết trăng đã mọc, Hương hoa tràn vào nhà biết xuân đã về)

    ***

    Đó là chuyện câu đối bên Tàu, còn ở ta thì tục xin chữ, viết câu đối xuân ngày xưa cũng rất phổ biến, phổ biến đến mức trở thành một món không thể thiếu trong ngày Tết cùng thịt mỡ, dưa hành, cây nêu, bánh chưng, tràng pháo. Đáng tiếc là theo thời gian, từ khi chúng ta chuyển qua dùng chữ Quốc ngữ, nó cứ nhạt dần.

    Thực ra ngày xưa, giữa ta và Trung Quốc do tính chất đồng văn nên câu đối chữ Hán được truyền tụng qua về mà dường như không có sự phân biệt. Ngay cả câu đối của Ái La Giác Tân cũng được xem như câu đối của một vị danh Nho người Việt nào đấy, chỉ khác thay chữ “trúc” bằng chữ “thụ”:

    Thụ ảnh hoành song tri nguyệt thướng
    Hoa hương nhập hộ giác xuân lai

    Cũng có những câu đối tuyệt hay nhưng không rõ chính xác là của ai:

    Nhất thụ mai hoa nhất thụ ngọc
    Bán sàng minh nguyệt bán sàng thư

    (Một cây hoa mai một cây ngọc, Nửa giường sách vở nửa giường trăng)

    Với chủ đề đón Tết đón Xuân nên câu đối đầu năm luôn tràn ngập sắc xuân:

    Xuân phong xuân vũ xuân quang hảo
    Tân tuế tân niên tân sự đa

    (Gió xuân mưa xuân ánh xuân đẹp, năm mới tuổi mới nhiều chuyện hay)

    Trong câu đối ngày xuân thường có bóng hoa đào, hoa mai và các thứ đặc trưng của ngày Tết. Và chúng cũng chính là sư giả của mùa xuân:

    Sổ điểm đào hoa tri vãn tuế
    Nhất hương địa bánh báo tân xuân

    (Vài bông đào nở hay năm hết, một mùi hương bánh báo xuân về)

    Ngày xuân cũng là lúc người ta cảm nhận tốt nhất vẻ đẹp của đất trời của giang sơn gấm vóc nghìn thu mà tổ tiên trao gửi lại:

    Thiên thu tuế nguyệt thiên thu mỹ
    Vạn lý giang sơn vạn lý xuân

    (Ngàn năm thu đến ngàn thu đẹp, Vạn dặm giang sơn vạn dặm xuân)

    ***

    Ở Huế, câu đối xuân – theo nhiều nghĩa - vẫn còn tồn tại khá nhiều trên các di tích danh thắng.

    Câu đối mà chúng tôi cho là tuyệt hay hiện vẫn còn tồn tại trên hai trụ lớn trước đình Thương Bạc, ngó ngay vào cửa Thượng Tứ:

    Vũ trụ thái hòa thiên ngọc bạch y thường thử hội
    Kinh sư thủ thiện địa thanh danh văn vật sở đô

    (Trời vũ trụ thái hòa là lúc áo xiêm ngày hội, Kinh sư ấy đất lành nơi tụ hội của văn vật muôn phương).

    Câu đối không hề có một chữ xuân hay nhắc đến mùa xuân mà vẫn thấy không khí xuân tràn đầy. Rõ ràng đây không chỉ là câu đối ca ngợi kinh đô Huế của triều Nguyễn mà còn là câu đối ca ngợi mùa xuân, sức xuân của mảnh đất tụ hội văn vật của cả nước.

    Ở Triệu Miếu cũng còn giữ được vài câu đối sơn son thếp vàng khá đẹp, trong đó có những câu đối xuân, như:

    Quế điện phô hạm chân hiên phủ thụy sắc
    Sơ diên kỷ khánh bát thiên tuế nguyệt tiến hàn du

    (Điện quế sáng ngời nét đẹp tươi bừng khoe rạng rỡ, Trải chiếu đón chào tám nghìn năm dâng tiến niềm vui)

    Cũng là một câu đối đầy vẻ xuân, sức xuân trong chốn cung điện nhà vua.

    Câu đối xuân còn được khắc trên cung điện với nội dung khá phong phú. Có câu ví khí sắc mùa xuân với vận nước:

    Bách hoa thổ diễm xuân phong noãn
    Vạn chúng cánh tân quốc vận xương

    (Trăm hoa nhả đẹp khí xuân ấm, Vạn nhà thêm mới vận nước lên).

    Chuyện về câu đối thì có thể nói là vô cùng, đầu xuân chỉ xin dẫn vài chuyện vặt ngõ hầu giúp vui cùng độc giả, nếu có gì chưa hay, chưa đúng cũng xin lượng thứ.

    Nguyễn Thừa
    ***
    Câu đối Tết

    Câu đối Tết là một trong những thể loại văn chương phổ biến nhất được làm vào dịp Tết để mừng xuân, mừng năm mới và cũng là để trang trí cho đẹp nhà đẹp cảnh xuân. Ngày xưa, Tết thiếu gì thì thiếu còn “thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ” là không thể thiếu.

    Khái niệm câu đối

    Câu đối là một sáng tác văn học, thuộc thể loại văn biền ngẫu gồm hai vế đối nhau, nhằm biểu thị một ý chí, quan điểm, tình cảm của tác giả trước một hiện tượng, một sự việc nào đó trong đời sống xã hội.

    Câu đối còn thể hiện tài trí thông minh, nhanh nhậy. thể hiện phong cách tài tử trong việc đối đáp ứng xử. Câu đối không dài, không nhiều chữ nghĩa như những bài văn bài thơ, tuy chỉ có hai vế nhưng nó vẫn thể hiện được những ý tưởng mhững quan điểm một cách rõ ràng, cô đọng và súc tích. Ngôn từ của câu đối được cân nhắc chọn lọc, âm điệu nhịp nhàng, kết cấu chặt chẽ, nhiều câu tài tình đến mức người đọc người nghe cảm thấy kỳ thú một cách bất ngờ khi nó bật ra ý tưởng mới lạ. “Văn hay chẳng lọ ngắn dài”.

    Những câu đối trí tuệ tài hoa biểu lộ được những quan điểm tư tưởng đúng dắn thường được lưu truyền rộng rãi cũng giống như những câu ca dao, câu thơ hay sẽ mãi mãi trường tồn. Tóm lại câu đối không chỉ là thể loại văn học mà còn là một thể loại văn học đặc biệt và là một nét đẹp của phong tục cổ truyền của bản sắc văn hóa dân tộc.

    Có thể cho rằng câu đối Việt Nam được bắt nguồn từ thực tế đời sống xã hội, bắt nguồn từ cách nói đối ngẫu tự nhiên của ngôn ngữ dân tộc. Từ những câu thành ngữ, tục ngữ ca dao trong văn học dân gian đến những câu nói quen miệng hàng ngày cũng thường hình thành những vế đối ứng tự nhiên.

    Câu đối Tết

    Những ngày giáp tết ở những nơi phố đông, những phiên chợ thường có những ông đồ ngồi viết câu đối thuê, như nhà thơ Vũ Đình Liên đã viết:

    "Mỗi năm hoa đào nở
    Lại thấy ông đồ già
    Bày mực tàu giấy đỏ
    Bên phố đông người qua..."

    Phần lớn câu đối tết của các nhà nho tự làm là những câu đối tức cảnh ngẫu hứng, những câu vịnh cảnh tết, cảnh nhà, cảnh mình nhưng cũng có nhiều câu chính luận thời đàm. Nhiều người nghĩ đến tình thế xã hội, nghĩ đến cuộc sống khó khăn nên đã viết những câu đối tết như:

    "Thiên hạ xác rồi còn đốt pháo
    Nhân tình đã bạc lại bôi vôi"

    "Tối ba mươi công nợ rối Canh Tân những ước mười năm dồn lại một
    Sáng mồng một rượu chè say Quý Tỵ lại mong ba bữa hóa ra mười"

    "Duyên với văn chương nên treo chữ;
    Nợ cùng trời đất phải trồng nêu"

    "Đuột trời ngất nghểu một cây nêu tối bữa ba mươi ri cũng tết;
    Vang đất đì đùng ba tiếng pháo rạng ngày mồng một rứa là xuân"

    "Mua pháo đốt chơi để anh em nghe có tiếng
    Giật nêu đóng lại cho làng nước biết không xiêu"

    Câu đối thờ viết trên giấy đỏ dán ở cột, ở cửa nhà nội dung thường bày tỏ lòng biết ơn của cháu con đối với tiên tổ:

    "Tuế hữu tứ thời xuân tại thủ
    Nhân ư bách hạnh hiếu vi tiên"

    (Năm có bốn mùa, mở đầu bằng mùa xuân;
    Người ta có trăm tính nhưng tính hiếu thảo là cần trước hết)

    Ở làng trang Đông Hồ câu đối trên đã được cải biên chút ít và đưa vào bộ tranh chủ treo ở bàn thờ gia tiên, hai bên là chữ Phúc, chữ Thọ và đôi câu đối:

    "Từ thời xuân tại thủ
    Ngũ phúc thọ vi tiên"

    Những chữ Hán được trang trí cách điệu: một bên là con rồng, một bên là con phượng trên nền giấy điểm xuyết hoa, lá, chim muông.

    Những câu đối này thường kèm theo mấy chữ đại tự cũng viết trên giấy đỏ treo thành bức hoành: "Ấm hà tư nguyên" (Uống nước sông nhớ đến nguồn); "Ðức lưu quang" (Ðức chan hòa ánh sáng).

    Dịp Tết còn có các câu đối tức cảnh xuân của các bậc văn hay chữ tốt, cũng được viết trên giấy đỏ treo ở cổng.

    Vậy tục treo câu đối Tết có từ bao giờ? Sách xưa có kể phong tục của người dân Bách Việt, trong ngày Tết Nguyên Đán theo bùa gỗ có hình hai vị thần Thần Ðồ và Uất Lũy treo hai bên cửa ngõ. Ðó là hai vị thần sống dưới gốc đào lớn dưới núi Ðộ Sóc chuyên cai quản đàn quỷ, hễ quỷ nào "phá rào" đi làm hại dân thì thần hóa phép trừ đi. Sau này việc treo bùa gỗ "Ðào phù" được thay bằng câu đối hai bên cửa.

    Ðời sống khấm khá dần, mỗi người, tùy hoàn cảnh, gửi gắm vào câu đối những ý tứ, những niềm vui cùng ước vọng vào một năm mới đang đến. Vào thế kỷ 15, thú chơi câu đối Tết đã trở nên phổ biến, khắp Kinh kỳ, từ dinh thự của quan lại tới các tư gia, đâu đâu cũng treo câu đối Tết. Lại có cả cấu đối nói về nghề nghiệp dán ở cửa hàng, cửa hiệu. Tương truyền, vào một năm, sắp tới giao thừa, vua Lê Thánh Tông ra phố phường xem dân ăn tết. Thấy một nhà không treo câu đối, vua vào hỏi, biết đó là nhà một người thợ nhuộm vợ góa, con trai đi vắng, vua bèn lấy giấy bút và viết.

    "Thiên hạ thanh hoàng giai ngã thủ;
    Triều đình chu tử tổng ngõ gia

    (Xanh vàng thiên hạ đều tay tớ
    Ðỏ tía triều đình tự cửa ta)

    Cùng với chữ Hán, nhiều danh sĩ nước ta còn viết câu đối Tết bằng chữ Nôm. Ðầu thế kỷ 20, Nguyễn Khuyến (1835-1909) đã sử dụng tài tình chữ viết của dân tộc, đưa cả ca dao, tục ngữ, thành ngữ vào câu đối. Trong 67 câu đối hiện còn của cụ thì 47 câu đối Nôm. Ðây là cảnh Tết của một nhà nghèo mà lòng vân phơi phới sắc xuân khi giao thừa sắp đến:

    Chiều ba mươi, nợ hỏi tít mù, co cẳng đạp thằng bần ra cửa
    Sáng mồng một, rượu say túy lúy, giơ tay bồng ông Phúc vào nhà"

    Hiểu rõ vần xoay của tạo hóa, cụ ước ao:

    "Có là bao, ba vạn sáu ngàn ngày, được trăm cái
    Tết ước gì nhỉ, một năm mười hai tháng, cả bốn mùa xuân"
    ***
    Câu đối mừng

    Câu đối đấu trí thử tài thường phát triển rộng rãi ở khắp mọi nơi mọi lúc. Ngày xưa những khi nhàn tả, những buổi đình đám hội hè, những lúc họp mặt bên mâm rượu, bàn trà các cụ thường đọc cho nhau nghe những câu đối hay, hoặc ra những vế xuất đối để cùng nhau nghiền ngẫm đối lại.

    Lê Văn Hưu khi nhỏ đi học ở Cổ Bôn (Đông Sơn) có ghé vào lò rèn để rèn dùi đóng sách vở. Bác phó rèn biết đất Bôn vốn là tay hay chữ muốn thử tài cậu bé từng nổi tiếng "Thần đồng" nên đã ra vế đối:

    "Than trong lò, lửa trong lò, sắt trong lò thổi phì phò rèn nêm dùi sắc"

    Lê Văn Hưu đối lại:

    "Sách trong túi, mực trong túi, bút trong túi viết lúi húi thi đỗ khôi nguyên"

    Cụ cử Vương Thúc Quý là thầy dạy chữ Nho của Nguyễn Sinh Cung. Năm 1902 cậu Cung 12 tuổi, trong một một buổi học, lúc cậu Cung rót dầu vào đèn, do sơ ý để dầu đổ ra đế đèn, nhân đó Thầy Quý đã ra cho cả lớp một vế đối

    "Thắp đèn lên dầu vương ra đế"

    “Vương” vừa có nghĩa chảy dính vào vừa có nghĩa là vua.

    “Đế” vừa có nghĩa là đế đèn vừa là hoàng đế. Trong lúc cả lớp còn suy nghĩ thì cậu Cung đã xin được đối lại:

    "Cưỡi ngựa phi thẳng tấn lên đường"
    ***
    Câu đối sách

    Là câu đối lấy chữ nghĩa đã có sẵn trong sách hoặc lấy những điển cố, điển tích để đưa vào câu đối. Khi vế xuất đối lấy điển tích hoặc lấy chữ trong sách, trong truyện thì vế đối lại cũng phải lấy điển tích hoặc chữ trong sách trong truyện có thể lấy trong cùng một quyển sách và cũng có thể lấy ở hai quyển, hai truyện khác nhau.

    “Thúy Kiều đi qua cầu thấy bóng chàng Kim lòng đã Trọng
    Trọng Thủy nhìn vào nước thoáng hình nàng Mỵ mắt sa Châu”

    Hà Tôn Quyền đọc vế đối, lấy nguyên một câu trong sách “Trung Dung”:

    “Quân tử ố kỳ văn chi trứ”

    Có nghĩa là người quân tử rất ghét cái lòe loẹt bề ngoài, nhưng nghĩa bón lại hàm ý: Người quân tử rất ghét cái giọng văn của ông Trứ.

    Nghe xong, Nguyễn Công Trứ cũng lấy luôn một câu trong sách “Trung Dung” để đối lại:

    “Thánh nhân bất đắc dĩ dụng quyền”

    Có nghĩa là bậc thánh nhân bất đắc dĩ mới phải dùng đến quyền lực. Nhưng nghĩa bóng lại hàm ý là bậc thánh nhân bất đắc dĩ mới phải dùng đến ông Quyền.
    ***
    Câu đối thờ các vị nhân thần, thiên thần

    Nhân thần là những vị có công lớn đối với dân, với nước khi chết được phong thần và các vị Thiên thần giáng thế:

    Đức đại yên dân thiên cổ thịnh;
    Công cao hộ quốc vạn niên trường

    (Đức lớn giúp dân lưu muôn thuở;
    Công cao giữ nước rạng ngàn thu)

    Câu đối ở đền thờ Trần Hưng Đạo:

    Gia hiếu tử, quốc trung thần, công liệt chiến đan thanh, ninh chỉ lưỡng hồi an xã tắc;
    Văn kinh thiên, vũ bát loạn, anh linh tham khí hóa, thượng lưu chung cổ điện sơn hà”

    (Làm con hiếu, làm tôi chung, công lớn chói sử xanh không chỉ hai lần yên đất nước;
    Nào văn hay, nào võ giỏi, anh linh trùm cõi tục vẫn còn muôn thuở giúp non sông)

    Câu đối ở đên thờ Lê Lai (Ngọc Lặc Thanh Hóa):

    Lê triều hiển tích trung lương tướng;
    Nam quốc phương danh thượng đẳng thần

    Câu đối ở đền thờ hai cha con Đặng Dung, Đặng Tất (Cả hai cha con đều là dũng tướng chống giặc Minh thời hậu Lê)

    Quốc sĩ vô song, song quốc sĩ;
    Anh hùng bất nhị, nhị anh hùng

    Câu đối ở đền thờ Nguyễn Công Trứ (Làng Đông Quách huyện Tiền Hải Thái Bình):

    Đắc địa sinh từ Đông ấp nhất bách niên kỷ niệm;
    Kình thiên trụ thạch Hồng Sơn thiên vạn cổ tề cao

    (Đất tốt dựng đền thờ, làng Đông ấp trăm năm lưu kỷ niệm;
    Trời cao xây cột đá, núi Hồng Sơn muôn thuở sánh công lao)

    Câu đối Đức Ông tại chùa Thiên Phức (Còn gọi là chùa Bộc) ở Khương Thượng Đống Đa:

    Động lý vô trần đại địa sơn hà lưu đống vũ;
    Quang trung hóa phật tiểu thiên thế giới chuyển phong vân

    (Bụi trần trong động không còn, non sông đất nước lưu rường cột;
    Ánh sáng hóa thành phật cõi tiểu thiên thế giới chuyển gió mây)

    Có tài liệu nói vua Quang Trung được thờ ở chùa Bộc, tượng Đức Ông chính là tượng Quang Trung, nhưng để tránh trả thù của nhà Nguyễn nên tượng và câu đối không dám đề rõ.

    Câu đối ở Quốc Tử Giám:

    Đông Tây Nam Bắc do tự đạo;
    Công, Khanh, Phu, Sĩ xuất thử đồ

    Câu đối ở đền thờ Thánh Gióng:

    Phá tặc đãm hiềm tam tuế vãn
    Đằng vân do hận cửu thiên đê

    (Lên ba tuổi phá được giặc còn cho là muộn;
    Vượt chín từng mây còn hận trời vẫn chưa cao)

    Câu đối ở đền Hùng:

    Lăng tẩm tự năm nào, núi Tản, sông Thao non nước vẫn quay về đẩt tổ;
    Văn minh đang buổi mới, con Hồng cháu Lạc giống nòi còn nhớ đến mồ ông

    Hoặc:

    Có tôn, có tổ, có tổ, có tôn tôn tổ tổ cũ;
    Còn nước, còn non, còn nước, nước non non nước nước non nhà

    Hoặc:

    Thập bát đại thừa truyền Lô bích, Tản thanh đồ bản cựu;
    Nhị thiên niên linh chức Âu phong, á vũ, miết đường cao
    ***
    Câu đối thờ gia tiên

    Thờ gia tiên trong các gia đình hoặc trong nhà thờ họ thường có những câu như:

    Nhật nguyệt quang chiếu thập phương;
    Tổ tông lưu thùy vạn thế

    (Vầng nhật nguyệt chiếu mười phương rạng rỡ;
    Đức tổ tiên lưu muôn thuở sáng ngời)

    Mộc xuất thiên chi do hữu bản;
    Thủy lưu vạn phái tổ tòng nguyên

    (Cây sinh ngàn nhánh do từ gốc;
    Nước chảy muôn nơi bởi có nguồn)

    Đức thừa tiên tổ thiên niên thịnh;
    Phúc ấm nhi tôn vạn đại vinh

    (Tổ tiên tích đức nghìn năm thịnh;
    Con cháu ơn nhờ vạn đại vinh)

    Bản căn sắc thái ư hoa diệp;
    Tổ khảo tinh thần tại tử tôn

    (Sắc thái cội cành thế hiện ở hoa lá;
    Tinh thần tiên tổ lưu lại trong cháu trong con)

    Cúc dục âm thâm Đông hải đại;
    Sinh thành nghĩa trong Thái ơn cao

    (Ơn nuôi dưỡng sâu tựa biển Đông;
    Nghĩa sinh thành cao như non Thái)
    ***
    Câu đối tức cảnh cảm hứng

    Câu đối của Cao Bá Quát:

    Nhà trống ba gian một thầy một cô, một chó cái;
    Học trò dăm đứa nửa người nửa ngợm nửa đười ươi

    Tương truyền khi ông bị cùm gông trong ngục, ông còn có câu ngẫu hứng:

    Một chiếc cùm lim chân có đế;
    Ba vòng xích sắt bước thì vương

    Vừa vịnh cảnh bị gông cùm vừa ngụ ý coi khinh bậc đế vương, coi đế, coi vương ở dưới chân mình.

    Hoặc:

    Tiền bạc của giời chung trống trải thế mới vòng khuyên sáo;
    Công danh đường đất rộng kèn cựa chi cho thẹn chí tang bồng

    Câu đối của một quan văn vịnh bạn là một ông quan võ. Ông quan võ chột một mắt nhưng vốn nổi tiếng dũng cảm trong các trận chiến đấu chống Pháp:

    Cung kiếm ra tay thiên hạ đổ dồn hai mắt lại;
    Triều đình cử mục, anh hùng chỉ có một ngươi thôi

    (Ý: Tài cung kiếm đã ra tay chiến đấu thì cả thiên hạ phải trố mắt ra. Nhìn trong triều đình chỉ có mình nhà người là bậc anh hùng. Nhưng nghĩa bóng còn có ý cả triều đình chỉ có mình ông bị chột mắt, chỉ còn có một con ngươi).

    Một ông bạn khác còn tặng ông quan chột hai câu thơ:

    Bình tây sát tả thiếu chi người;
    Ngó lại anh hùng chỉ một ngươi

    Một anh nhà nho sinh phải đi đào kênh Hạc (Đông sơn Thanh Hóa). Hôm đó quan huyện cũng ra công trường thị sát. Quan nằm trên chiếc cáng, khi vén diềm màn nhìn thấy một thanh niên đang so vai rụt cổ gánh lèo tèo mấy cục đất. Quan cho gọi anh thanh niên lại mắng:

    - Mày nhác nhưởi, không chịu làm việc, gồng gánh như thế thì đáng phải ăn đòn.

    Anh thanh niên thưa:

    - Bẩm quan lớn con là học trò, chưa quen gồng gánh xin quan lớn xá cho.

    Quan là tay hay chữ nên khi nghe đên hai tiếng học trò, quan liền bảo:

    - Nếu là học trò thì thử đối lại câu này. Đối được thì ta sẽ tha cho. Rồi quan đọc:

    Gia công đào kênh Hạc, giang vai gánh đất cổ cò

    Vế ra lấy việc đào kênh Hạc mà làm đề để vịnh cảnh anh học trò giang vai rụt cổ gánh đất và dụng ý của quan là nhân có tên Hạc là tên loài chim nên đã lấy tên một số loài chim như gia, công, hạc, giang cò để vận dụng vào câu đối. Anh nho sinh đối lại:

    Cáng phượng mắc màn loan sáo rũ khách nằm kêu két két

    Vế đối lại cũng vận dụng đủ năm loại chim, Phượng, loan, sáo khách két để đối lại năm loại của vế ra, vế đối vịnh cảnh quan thảnh thơi nằm trên cáng ngược với cảnh người đang lao động vất vả. Biết gặp phải tay không vừa nên quan vội biến.

    Năm 1786, Lê Chiêu Thống nhờ Nguyễn Hữu Chỉnh đánh dẹp Trịnh Bồng. Bồng thua chạy. Được dịp trả thù nên Lê Chiêu Thống cho đốt phủ chúa. Còn Nguyễn Hữu Chỉnh thì cho thu chuông đồng ở các đình chùa để đúc tiền. Trước những sự việc như vậy nhiều người tỏ ý bất bình, có người đã làm câu đối tức cảnh dán ở cửa Đại Hưng:

    Thiên hạ thất tự chung, chung thất nhi đỉnh an tại
    Hoàng thượng phần vương phủ, phủ phần tức điện diệc không

    (Thiên hạ mất chuông chùa, chuông mất hạc còn đâu nữa, Hoàng thượng thiêu phủ chúa, phủ thiêu điện cũng trơ thôi)

    Ý: Chuông đã mất thì vạc là thứ tượng trưng cho vương quyền cũng không còn. Vua Lê dựa vào chúa Trịnh và chúa Trịnh cũng dựa vào vua Lê để cùng tồn tại nhưng nay vua đốt phủ chúa thì cung điện của vua cũng trơ.

    Thuở thiếu thời Lê Tư Thành (sau là vua Lê Thánh Tông) một hôm đi dạo mát bên bờ sông đào vùng Tống Sơn (Thanh Hóa) thấy một cô gái xinh đẹo đang vo gạo ở bến sông. Tức cảnh sinh tình nên Hoàng tử đọc một vế đối nhưng còn bỏ lửng ở câu cuối:

    Gạo trắng nước trong mến cảnh lại càng thêm mến cả…

    Không ngờ cô gái dừng tay nhìn Hoàng tử rồi đáp lại cũng bằng một vế đối bỏ lửng:

    Cát lầm gió bụi lo đời đâu đấy hãy lo cho…

    Hoàng tử sửng sốt về tài ứng đối của cô gái xinh đẹp, sau đó mới biết tên cô gái là Ngọc Hằng, con của một vị quốc công, mẹ con bị thất thế nên về vùng này. Về sau khi được lên ngôi, Lê Thánh Tông đã lấy Ngọc Hằng làm vợ.

    Nguồn: Internet (bfwireless)

    ***
    TÀI CHƠI CÂU ĐỐI





    0

    Câu đối là một hình thức văn hóa độc đáo, một thú vui tao nhã, một trò chơi trí tuệ đặc biệt của dân tộc ta. Mỗi câu đối là một công trình nghệ thuật sâu sắc về ý, tinh tế về lời, từ ngữ được đẽo gọt công phu. Trong hai vế của một câu đối, từng từ, từng ý phải đối nhau cả nghĩa đen và nghĩa bóng, cả hình thức và điển tích:

    - Con công đi qua chùa kênh, nó nghe tiếng cồng, nó kềnh cổ lại
    Con cóc leo cây vọng cách, nó rơi xuống cọc, nó cạch đến già.

    Quả là tuyệt vời ! "Công kênh, cồng kềnh" đối với "Cóc cách, cọc cạch" !

    Nhiều danh nhân, anh hùng hào kiệt của nước ta ngay từ bé đã thể hiện trình độ làm câu đối siêu việt. Còn nhớ ở làng nọ, có ông thợ rèn hay chữ thấy một cậu học trò nhỏ đang cắp túi xách đứng xem, bèn ra cho cậu một vế đối :

    - Than trong lò, sắt trong lò, lửa trong lò, thổi phì phò đúc nên dùi sắt.

    Chẳng phải suy nghĩ lâu, cậu bé đọc to :

    - Nghiên ở túi, bút ở túi, giấy ở túi, viết lúi húi giành được tam khôi.

    Cậu bé ấy chính là Lê Văn Hưu, lớn lên thi đỗ Bảng Nhãn và trở thành nhà sử học uyên bác của nước ta.

    Cụ Phan Bội Châu có lần vào nhà một ông thân sĩ giàu có, con cái đều đỗ đạt. Khi mới vào nhà, cụ Phan thưa :

    - Tôi ở miền Trung, đến đây tìm nơi dạy học, không may lỡ đường, xin gia đình giúp đỡ.

    Ông bố liền bảo người con vừa đỗ tú tài :

    - Mày ra cho anh ta một câu đối, nếu đối được thì dọn cơm đãi, bằng không thì đuổi đi.

    Người con ứng khẩu đọc ngay :

    - Qủa ngôn vi khóa, nhất nhân khấu mạnh thị thùy.

    Vế ra khá hiểm, chữ "quả" và chữ "ngôn" ghép lại thành chữ "khóa". Chữ "nhất", chữ "nhân" và chữ "khấu" ghép lại thành chữ "mạnh". Cả câu có nghĩa là : Anh nói anh là thầy đồ, thế một người đi xin ăn là ai ?

    Nghe xong, cụ Phan lập tức đối lại :

    -Nhập mồ xưng công, thiên lý hành xung bất nhượng.

    Vế đối cực kỳ tài tình ! Chữ "nhập" và chữ "mồ" ghép lại thành chữ "công". Chữ "thiên", chữ "lý", và chữ "hành" ghép lại thành chữ "xung". Cả câu có nghĩa là : Tôi vào nhà ông, tôi xin ông, nếu ngoài ngàn dặm, thì tôi không chịu nhường bước đâu !

    Vừa nghe qua, ông bố vội vã bước tới, đỡ lấy tay cụ Phan, cung kính hỏi :

    - Thưa ngài ! Qúy tính phương danh là gì, xin cho chúng tôi biết.

    - Tôi là Thủ khoa San.

    - ối, giời ơi ! Thật là danh bất hư truyền ! Lâu nay, chúng tôi vẫn nghe tiếng ngài, bây giờ mới thấy đây...

    Chủ tịch Hồ Chí Minh là một bậc thông tuệ, kiệt xuất về tài chơi câu đối. Hồi hoạt động ở Trung Quốc, trong một buổi họp có Bác và một người tên là Hầu Chí Minh cùng dự. Bất ngờ, Nguyễn Hải Thần xướng vế đối :

    *Hầu Chí Minh, Hồ Chí Mính, nhị vị đồng chí, chí giai minh

    (Hầu Chí Minh, Hồ Chí Minh, hai người đồng chí, chí đều sáng).

    Trong khi cả phòng còn đang nhíu mày bóp trán suy nghĩ thì Bác đã khoan thai đáp lại :

    *Nhĩ cách mạng, ngã cách mạng; đại gia cách mạng, mạng tất cách !

    (Tôi làm cách mạng, anh làm cách mạng, cả nhà làm cách mạng, cách mạng chắc chắn thành công!).

    Mọi người hết sức khâm phục. Tiếng vỗ tay vang như sấm.

    Tại một cuộc hội nghị nhằm chuẩn bị mở chiến dịch Điện Biên Phủ, Bác Hồ ra một vế xướng :

    - Giáp phải giải pháp.

    Vế ra chỉ có bốn từ, nhưng thật hóc hiểm. Chữ "giáp" chỉ Đại tướng Võ Nguyên Giáp, "phải giải pháp" là phải đánh thắng giặc Pháp trong chiến dịch lịch sử này. Mặt khác, theo cách nói lái của người Việt ta thì "Giáp phải" nói lái sẽ thành "giải pháp".

    Cả hội nghị không ai đối được. Mãi đến cuối buổi, mới có đồng chí Lê Văn Hiến đứng lên, nói trước mấy lời phi lộ rồi xin đọc vế đối :

    - Hiến tàí hái tiền.

    Thật tuyệt ! "Hiến" tức Bộ trưởng Bộ Tài chính Lê Văn Hiến, "Hiến tài" nói lái sẽ thành "hái tiền". Vế xưng nói về chiến đấu, vế đối nói về xây dựng. Chỉ có chữ "tài" đối với chữ "phải" là chưa được chỉnh. Nhưng cả câu "Hiến tài hái tiền" đối với "Giáp phải giải pháp" thì quả là khó tìm được câu nào hay hơn thế !

    Về câu đối ca ngợi công ơn Bác Hồ thì có vô số, mỗi câu mỗi vẻ, thể hiện từng cung bậc khác nhau của từng tác giả, nhưng cho đến nay, hay nhất có lẽ là câu đối của Nguyễn Văn Từ viết năm 1960, nhân dịp Bác tròn 70 tuổi :

    - Lo vì dân, nghĩ vì dân, vui khổ cũng vì dân, dốc chí thờ dân, công Bác với dân thiên thu bất tận !

    Bố gọi Bác, con gọi Bác, cháu chắt gọi Bác, nối dòng theo Bác, lòng dân mong Bác vạn thọ vô cương !

    HOÀ CƯỜNG
    (theo tạp chí Văn hoá Quảng Nam
    - số 25 ra tháng 1-2 năm 2001)
    ***
    Câu đối chọi
    13 Tháng chín 2008 | teu | 314 lượt đọc | 0 Lời bình »
    Thầy đồ thường dạy học trò đã đối thì phải đối cho chọi mới hay. Một hôm, thầy ra một vế đối: “Thần nông giáo dân nghệ ngũ cốc” (Thần nông dạy dân trồng ngũ cốc).

    Tất cả học trò đang ngơ ngác chưa biết đối thế nào. Thì anh học trò nọ đã gãi đầu gãi tai:

    - Thưa thầy, chữ “thần” con xin đối với chữ “thánh” có chọi không ạ?

    Thầy nói:

    - Ðược lắm!

    Anh ta lại hỏi:

    - Chữ “nông”, con đối với “sâu”, có chọi không ạ?

    Thầy nói:

    - Ðược lắm!

    Anh ta lại hỏi tiếp:

    - Chữ “giáo” đối với “gươm”, “dân” đối với “vua” có chọi không ạ?

    Thầy gật đầu:

    - Ðược lắm, được lắm!

    Anh ta lẩm nhẩm: “Nghệ” đối với “gừng”, “ngũ” đối với “tam”, “cốc” đối với “cò”.
    Cuối cùng anh ta xin đọc:

    - Bây giờ con xin đối ạ! “Thần nông giáo dân nghệ ngũ cốc” con xin đối là: “Thánh sâu gươm vua gừng tam cò”.

    Nhắn tin cho tác giả
    Phan Quốc Tuấn @ 20:31 20/02/2010
    Số lượt xem: 2279
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến

    Thử code


    BẢNG THỬ CODE