成语 (sưu tầm)
Bá Nha - Tử Kỳ
Tử Kỳ di hận thân tiên khứ
Bá Nha suất cầm tạ tri âm
Bá Nha và Tử Kỳ là đôi bạn tri âm thời Xuân Thu Chiến Quốc. Bá Nha làm quan, Tử Kỳ là tiều phu.
■ Bá Nha họ Du tên Thụy, người ở Sính Ðô nước Sở (nay là phủ Kinh Châu, tỉnh Hồ Quảng). Tuy là người nước Sở, nhưng làm quan cho nước Tấn, chức Thượng Ðại Phu.
■ Tử Kỳ, họ Chung tên Huy, nhà tại Tập Hiền Thôn, gần núi Mã Yên,...
Tứ cố vô thân 四顧無親
"tứ四" là "4"
"cố顧" là "nhìn, ngắm nghía "
"tứ cố四顧" là "nhìn 4 bên" nghĩa là "nhìn xung quanh"
"Tứ cố vô thân四顧無親" là "nhìn xung quanh không có thân nhân nào hết"
Có một thành ngữ đồng nghĩa là "Cử mục vô thân舉目無親"; "mục" là "mắt", "cử mục" có thể hiểu là "mở mắt nhìn xung quanh"
...
VẮNG NHƯ CHÙA BÀ ĐANH
Chùa Bà Đanh là tên gọi Nôm của chùa Châu Lâm. Chùa này được cất lên cùng với viện Châu Lâm vào thời vua Lê Thánh Tông (1460-1497) ở làng Thụy Chương, Hà Nội. Vì để tránh húy miếu vua Thiệu Trị nên sau này Thụy Chương phải đổi thành Thụy Khuê. Vào thời đó, viện Châu Lâm được dùng làm chỗ ở cho những người Chiêm Thành được đưa về sau các cuộc chiến tranh, còn chùa Châu Lâm là nơi dành cho họ cúng lễ (vì hầu hết...
ĐIỂN TÍCH TRONG NGỤC TRUNG NHẬT KÝ
NGUYỄN THẾ NỮU - TRẦN HỮU DINH
Xã Yên Bắc, Duy Tiên, Hà Nam
Ngục trung nhật ký là cuốn nhật ký bằng thơ chữ Hán của nhà thơ Hồ Chí Minh viết trong thời gian bị chính quyền Quốc dân Đảng Trung Quốc cầm tù ở Quảng Tây từ 29-8-1942 đến 10-9-1943. Thơ trong nhật ký phần lớn là thơ tứ tuyệt ngắn gọn, viết bằng bạch thoại, trong sáng giản dị, dễ hiểu. Nhà thơ rất hạn chế sử dụng điển cố, điển tích nhưng khi...
CÂU ĐỐI CHỮ HÁN
Trích một phần trong cuốn "3000 câu đối" do Giáo sư Trần Lê Sáng chủ biên)
...
花 朝 日 暖 青 鸞 舞
柳 絮 風 和 紫 燕 飛
Hoa triêu nhật noãn thanh loan vũ.
Liễu nhứ phong hòa tử yến phi.
Sớm hoa ngày ấm loan xanh múa.
Liễu bông gió thuận én biếc bay.
度 花 朝 適 逢 花 燭
憑 月 老 試 步 宮
Độ hoa triêu thích phùng hoa chúc.
Bằng nguyệt lão thí bộ nguyệt cung.
Độ hoa sớm đúng...
THÀNH NGỮ HÁN - VIỆT THƯỜNG DÙNG
1. 不知人間有羞耻事 Bất tri nhân gian hữu tu sỉ sự: Không biết xấu hổ. Xuất xứ từ Âu Dương Văn Trung tập- Dữ Cao Tư gián thư. Trong đó có đoạn: “Hôm qua An Đạo bị biếm chức, Sư Lỗ phải chờ xử tội, thế mà túc hạ còn đi gặp gỡ các bậc sĩ đại phu, nghênh ngang trong triều, xưng là giám quan, thế có nghĩa là túc hạ không biết xấu hổ vậy”. Đây là thành ngữ Trung Quốc thường dùng để chê bai, quở trách những...

Các ý kiến mới nhất