THÚ CHƠI CHỮ

Chơi chữ là " lợi dụng các hiện tượng đồng âm , đa nghĩa ,....trong ngôn ngữ nhằm gây một tác dụng nhất định như bóng gió , châm biếm , hài hước.....trong lời nói ; một biện pháp tu từ , trong đó ngữ âm , ngữ nghĩa , văn tự , văn cảnh ,....được vận dụng một cách đặc biệt nhằm đem lại những liên tưởng bất ngờ lý thú. " *
* : Nhiều tác giả 1983 , Tự Điển Văn Học tập 1 , Hà Nội Khoa Học Xã Hội , trg 104.
Các hình thức chơi chữ trong văn chương :
Có hai kiểu chơi chữ trong ca dao , đó là : chơi chữ dựa vào các phương tiện ngôn ngữ được biểu hiện trên văn bản và kiểu chơi chữ dựa vào tiền giả định là dữ liệu văn hóa văn học.
1 / Chơi chữ dựa vào các phương tiện ngôn ngữ được biểu hiện trên văn bản , được phân ra nhiều loại :
A - Ca dao chơi chữ bằng phương tiện ngữ âm và âm viết.
B - Ca dao chơi chữ bằng phương tiện từ vựng - ngữ nghiã.
C - Ca dao chơi chữ bằng phương tiện ngữ pháp.
D - Nói lái trong ca dao.
2 / Chơi chữ dựa vào dữ liệu văn hóa văn học.
1 / Chơi chữ dựa vào các phương tiện ngôn ngữ :
A / Ca dao chơi chữ bằng phương tiện ngữ âm và âm tiết :
* Chơi theo cách nhại mô phỏng âm thanh :
Chồng chổng chồng chông ;
Chồng bát , chồng đĩa , nồi hông cũng chồng !
Con mèo , con mẻo , con meo
Muốn ăn thịt chuột thì leo xà nhà.
Cô thỉ , cô thi ,
Cô đang đương thì , cô kẹo với ai ?....
Bà già , bà giả , bà gia ,
Bà ra kẻ chợ , con ma bắt bà.
Bác gì , bác xác bác xơ
Bác chết bao giờ , bác chả bảo tôi.
Muốn rằng tàu lặn tàu bay
Nên anh bỏ việc cấy cày anh đi.
Biết mà cu lít cu li ,
Thà rằng ở vậy nhà quê với nàng.
Nhà quê có họ có hàng ;
Có làng , có xóm , nhỡ nhàng có nhau.
Cách nhại của các bài có thể ghi lại như sau :
Chồng -> chổng -> chông
Mèo -> mẻo -> meo
Thì -> thỉ -> thi
Già -> giả -> gia
Được chuyển âm tiết muốn nhại từ âm vực thấp đến âm vực cao bằng cách gắn âm điệu : huyền _ hỏi _ ngang ( ko dấu ) bất chấp âm điệu này có tạo nên các hiện tượng cùng âm hay ko.
" Xác....xơ " dùng hiện tượng láy vần để nhại Bác , tác giả nhằm biểu hiện sự ko bằng lòng trước cái chết của bác tác giả.
" Cu lít cu li "là cách nhại từ cu li , hòng cho thấy sự nhầm lẫn trong thái độ bất bình của nhân vật trữ tình.
/ Chơi chữ dựa vào các phương tiện ngôn ngữ : ( tiếp theo )
A / Ca dao chơi chữ bằng phương tiện ngữ âm và âm tiết : (TT)
** Chơi chữ theo cách điệp âm :
Theo cách điệp âm ca dao ko sử dụng nhiều. Tuy vậy vẫn tìm thấy hai cách điệp là : điệp một bộ phận của âm tiết và điệp hoàn toàn các âm tiết.
TD :
Nước chảy riu riu ,
Lục bình trôi ríu ríu ;
Anh thấy em nhỏ xíu , anh thương.
Duyên trúc trắc , nợ trục trặt ;
Thiếp với chàng bất đắc vãng lai.
Sàng sàng lệ nhỏ càng mai
Dẫu không thành đường chồng vợ , cũng nhớ hoài nghĩa xưa
Riu riu , ríu ríu , xíu / trúc trắc , trục trặc , bất đắc...; có thể xếp vào loại điệp một bộ phận của âm tiết ( phần vần ). Tác dụng của cách điệp này là tạo nên một nét nghĩa nền tản cho toàn bài và nhấn mạnh sắc thái nghĩa cục bộ của từ ngữ được điệp.
TD :
Duyên duyên ý ý tình tình
Đây đây đó đó tình tình ta ta
Năm năm tháng tháng ngày ngày
Chờ chờ đợi đợi , rày rày mai mai.
Ở TD trên , tuy hai dòng đầu phụ âm Đ - được điệp trong bốn âm tiết ( sử dụng 4 lần chữ có phụ âm Đ ) , phụ âm T được điệp trong sáu âm tiết ; nhưng về cơ bản đây chỉ là sự gấp đôi một cách đều đặn các âm tiết cấu tạo nên bài ca dao : hai cặp lục bát chỉ sử dụng 14 âm tiết ( trong đó chữ Tình được điệp 4 lần , thành ra chỉ còn lại 13 , ở đây mỗi âm tiết đồng thời là một từ ). Cách điệp trong trường hợp này cho thấy sự dằn dỗi , bức xúc của người nói.
Chơi chữ bằng phương tiện cùng âm : dùng phương tiện cùng âm ca dao có bốn cách :
Tạo một ngữ cảnh cho phép xuất hiện cùng âm ;
Tạo ra nhiều từ cùng âm , gây sự tương phản giữa âm và nghĩa ;
Tạo ra một từ có thể hiểu nước đôi ;
Dựa vào tên gọi động vật , thực vật.
Tạo ra một ngữ cảnh cho phép xuất hiện cùng âm :
TD : có hai lời hò đối đáp có thể xem là dị bản của nhau dưới đây :
Một trăm thứ dầu , dầu chi không ai thắp?
Một trăm thứ bắp , bắp chi không ai rang?
Một trăm thứ than , than chi không ai quạt?
Một trăm thứ bạc , bạc chi bán chẳng ai mua?
Trai nam nhi đối đặng , gái bốn mùa xin theo.
Một trăm thứ dầu , dầu xoa không ai thắp ;
Một trăm thứ bắp , bắp chuối chẳng ai rang ;
Một trăm thứ than , than thân không ai quạt ;
Một trăm thứ bạc , bạc tình bán chẳng ai mua :
Trai nam nhi đà đối đặng , gái bốn mùa tính răng ?
*************
Em hỏi anh Trong các thứ dầu , có dầu chi là dầu không thắp?
Trong các thứ bắp , có bắp chi là bắp ko rang?
Trong các thứ than , có than chi là than ko quạt?
Trong các thứ bạc , có bạc chi ko đổi ko mua?
Trai nam nhơn chàng đối được mới rõ ai thua phen này?
Trong các thứ dầu , có nắng dãi mưa dầu là dầu ko thắp ;
Trong các thứ bắp , có bắp mồm bắp miệng là bắp ko rang ;
Trong các thứ than , có than hỡi than hời là than ko quạt ;
Trong các thứ bạc , có bạc tình bạc nghĩa là bạc ko đổi ko mua ;
Trai nam nhơn vừa đối đặng , hỏi thiếp vừa tính sao?
Ngữ cảnh " Một trăm thứ...." hay " Trong các thứ......" : đã xuất hiện những từ cùng âm , làm cho điệu hò có vần có điệu. Suy ra , có vô số cách sử dụng cùng âm được cho là phù hợp.
Tạo ra nhiều từ cùng âm , gây sự tương phản giữa âm và nghĩa :
Theo cách này có môt số bài ca dao như sau :
TD :
Anh hùng đến đó thì vô ,
Không vô rồi lại trách vô vô tình.
Không vô có lẽ đi chi ,
Đi chi đến đó , trách chi chi mà.
Ở bài trên , Vô-1 , vô-2 : là động từ ; vô-3 thì ít nhiều mang ý nghĩa chỉ một phạm vi ở trong ( trong nhà ) so với vị trí người nói ( đang ở ngoài sân , ngoài đường ; và vô-4 thì mang cấu trúc của chữ Vô Tình.
Người ta đãi đỗ đãi vừng
Người ta đãi chị , chị đừng đãi em.
Vò chi , vò đỗ vò vừng ,
Như đây với đó xin đừng vò nhau.
Trồng bông , luống đậu luống cà ,
Ai làm cho luống công ta thế này
Đãi bôi kia hỡi đãi bôi
Có một đấu tấm đãi mười khúc sông.
Tạo ra một từ có thể hiểu nước đôi :
TD :
Trời mưa trời gió , vác đó ra đơm ,
Chạy vô ăn cơm , chạy ra mất đó.
Kể từ ngày ai lấy đó , đó ơi ,
Răng đó không phân qua nói lại đôi lời đây hay ?
Ở bài ca dao này , khi đọc hai câu trên thì ta hiểu Đó : là dụng cụ làm bằng tre , hình ống , có hom để đón bắt tôm cá ở khe , lạch. Nhưng khi đọc tiếp hai câu cuối thì sẻ thấy chữ Đó ở đây được người nói nhân cách hóa và ví von như người yêu đã bị đánh mất. Sở dĩ có được sự liên tưởng theo hướng thứ hai này là nhờ vào ngữ cảnh ; đặc biệt là đặt " Đó " trong mối quan hệ với " Đây " và từ " Lấy " có thể mang hai nghĩa.....
Xuống thuyền nhịp bảy nhịp ba ,
Trách cô hàng trứng ở ra hai lòng.
Con sông nước chảy đôi dòng ,
Đèn khêu hai ngọn biết trông ngọn nào ?
Bà già đi chợ Cầu Đông ,
Bói xem một quẻ , lấy chồng lợi chăng ?
Thầy bói gieo quẻ nói rằng :
Lợi thì có lợi nhưng răng không còn.
Văn Thánh trồng thông , Võ Thánh trồng bàng
Ngó vô Xã Tắc hai hàng mù u .(*)
(*) : Văn Thánh : ( văn miếu ) đền thờ Khổng Tử và các danh nho.
Võ Thánh : ( võ miếu ) đền thờ các võ tướng
Xã Tắc : là một cái đàn để tế Thần Đất ( Thái Xã ) và thần Lúa ( Thái Tắc). Đó là 3 công trìnhkiến trúc ở Huế , vào thời Gia Long , Minh Mạng.
Nhưng trong câu ca dao trên , Văn Thánh , Võ Thánh còn tượng trưng cho trí lực và dũng lực của cộng đồng ; Xã Tắc cũng thường chỉ nước nhà , giang sơn. Ngoài ra đôi từ " mù u " cũng được hiểu theo hai nghĩa....
THUA BẠC
Ngày xuân thong thả tính thờ ơ ,
Thấy chúng chăn trâu đánh cũng ưa.
Tưởng làm ba chữ mà chơi vậy ,
Bổng chốc nên quan đã sướng chưa !
Nguyễn Công Trứ
Quan : vừa có nghĩa là quan chức , mà cũng có nghĩa là quan tiền
~~~~~~~~
Không răng đi nữa cũng không răng ,
Chỉ có thua người một miếng ăn.
Miễn được nguyên hàm nhai tóp tép ,
Không răng đi nữa cũng không răng.*
Tôn Thất Mỹ
* : bài thơ tương truyền được tác giả viết lúc vừa bị rụng một cái răng , đồng thời cũng vừa nhận được tin vui là triều đình cho phục nguyên hàm tá lý , nhưng ko được hưởng lương.
Không Răng ( ko có cái răng ) = không răng ( ko sao - từ ngữ địa phương ).
Nguyên hàm ( vừa có nghĩa là hàm còn nguyên vẹn để nhai ) = Nguyên hàm ( cũng ám chỉ hàm tá lý vừa được phục hồi.)
Dựa vào tên gọi động vật , thực vật :
Ở cách này , ca dao thường vận dụng một thành tố cùng âm trong cấu trúc tên gọi giữa động vật và thực vật , giữa sinh vật nói chung với một hiện tượng cuộc sống.
TD:
Con chim sa sả đậu trên cây sả ,
Con cá lia thia nấp bụi cỏ thia.
Trách ai làm cho khóa rẽ chìa ,
Khi thương thương tận , khi lìa lìa xa.
Bồng bồng mà nấu canh tôm ,
Ăn vào mát ruột , đêm hôm lại bồng.
Ta trong cây khế ta ra
Mình còn cạnh khế chi ta hỡi mình.
~~~~~~~~
Ngoài ra thuộc cách này , còn có một số bài sử dụng cùng âm Hán Việt với thuần Việt kèm theo ,
TD:
Con chim đa đa mà đổ cành đa ,
Cất tiếng gáy đa đa ích thiện ;
Con cá úc nằm dưới vũng úc ,
Vẫy đuôi lên úc úc hồi văn.
Rằng chàng là đấng văn nhân
Chàng mà đối được , thiếp theo chân chàng về ?
Con muông mang ăn bụi chuối mang ,
Xuống uống nước mang mang đại hải ,
Con rắn lục leo cây liễu lục ,
Lên khỏi khoe lục lục kỳ công.
Ta nay là đấng anh hùng ,
Theo ta ta cũng rộng lòng bao dung.
Chơi chữ bằng hình thức chiết tự Hán Việt :
Hình thức chiết tự Hán Việt phổ biến trong ca dao là đố chữ. Hai hình thức chiết tự khác không dùng nhiều bằng là nói chữ và loại chiết tự nhằm nêu một nhận xét nhằm liên quan đến lịch sử.
Đố Chữ : ( dùng cho Hán tự )
TD :
Nghe tin anh học Kinh Thi
Ba ngang ba sổ , chữ chi rứa chàng?
_ Anh đây học sách thánh hiền
Ba ngang ba sổ , chữ điền em ơi.
Đấm một đấm , hai tay ôm quàng ,
Thuyền chèo trên núi , thiếp hỏi chàng chữ chi?
_ Lại đây anh nói nhỏ em nì
Ấy là chữ mật một khi rõ ràng.
Cầm đàn gảy khúc nam thương ,
Tì bà cầm sắt , bát vương đối gì ?
_ Khéo đưa sách cổ mà ôn
Vị li võng lượng bốn con quỷ ngồi.
Bài này lấy ý từ câu đối của Mạc Đỉnh Chi. Lúc ông đi sứ qua Trung Hoa đã ra cho ông một vế câu đối " Vị , li , võng , lượng , tứ tiểu quỷ ( theo Hán tự thì trong bốn chữ : Vị , Li , Võng , Lượng đều có chữ Quỷ ) ông đã đối lại " tì , bà , cầm , sắt , bát nhị vương " ( trong bốn chữ Tì , Bà , Cầm , Sắt có tám chữ Vương , theo Hán tự )
Nói chữ :
Nói chữ theo hình thức chiết tự trong ca dao nhằm biểu hiện sự kính đáo , tế nhị của người nói , với giả định người đối thoại cũng nắm bắt , thông hiểu được vấn đề.
TD : Bấy lâu em vắng đi đâu ,
Bây giờ thiên đã mọc đầu ra chưa?
_ Từ ngày thiếp vắng mặt chàng
Bây giờ liễu đã có ngang ra rồi.
Giải theo Hán tự : chữ Thiên mọc đầu -> chữ Phu ( chồng ) , chữ Liễu có ngang -> Tử ( con ). Như vậy điều chàng hỏi nói gọn là " Em đã có chồng chưa? " và câu trả lời của nàng là " Chẳng những có chồng mà còn có cả con nữa !"
Đến đây hỏi thật quê chàng ,
Hỏi danh , hỏi họ , hỏi làng làng chi?
_ Giằng đầu nhất khẩu chữ điền ,
Thảo đầu vương ngã là miền quê anh.
Chiết tự nhằm nêu lên một nhận xét nhằm liên quan đến lịch sử :
Nguyễn đi rồi Nguyễn lại về
Chúa Trịnh mất nước , vua Lê khó còn ,
Đầu cha lấy làm chân con
Mười bốn năm tròn hết số thì thôi.
Nhà Tây Sơn , tính từ lúc Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế ở Phú Xuân năm 1788 , đến lúc Nguyễn Quang Toản bị giết năm 1802 , là 14 năm." Đầu cha lấy làm chân con " , do chiết tự từ niên hiệu Quang Trung [ Hán tự ] và Cảnh Thịnh [ Hán tự ] mà ra ( do chữ Tiểu nằm phần trên trong Hán tự Quang Trung và nó cũng nằm dưới trong Hán tự Cảnh Thịnh ).B / Ca dao chơi chữ bằng bằng phương tiện từ vựng - ngữ nghĩa :
Với phương tiện từ vựng - ngữ nghĩa , ca dao có các hình thức chơi chữ sau : dùng từ cùng nghĩa , dùng từ trái nghĩa , dùng từ cùng trường ngữ nghĩa , dùng các đơn vị Hán Việt và thuần Việt có ý nghiã tương đương và một số dạng chơi chữ hỗn hợp , như sau :
* Chơi chữ theo cách dùng từ cùng nghĩa :
TD :
Mừng chàng khí khái anh hùng ,
Tiếng tăm hùm hổ , vẫy vùng nước non.
Chú giải : câu lục bát trên dùng " khái " , " hùm " , " hổ " ( tách ra từ các tổ hợp ) để chỉ : " chúa sơn lâm ". Mục đích của việc tạo cùng nghĩa ở đây là hình tượng hóa các tính chất được nêu , khiến lời Mừng chàng vừa sinh động vừa chân thật , chứ ko phải khen ngợi lấy có.
Chàng về đồng không mông quạnh , gió lạnh sương sa ;
Em ở nhà lụy lâm , lâm lụy nước mắt sa theo chàng.
Tiếng anh hay chữ em hỏi thử đôi lời :
Xứ nào không biết đói anh ơi ,
Xứ nào dân chúng suốt đời vàng da ,
Xứ nào như rắn bò ra ,
Xứ nào không miệng vậy mà có răng ?
_ Anh đây dốt đặc cán mâu ,
Em đà hỏi đến , anh đâu tiếc lời :
Kinh Xà No người không biết đói ,
Tỉnh Nghệ An phải chịu vàng da ,
Rắn bò có tỉnh Sóc Trăng
Cần Thơ có quận Cái Răng rõ ràng.
Chơi chữ theo cách dùng từ nhiều nghĩa :
TD :
Chiếu hoa mà trải sập vàng
Điếu ngô xe trúc , sao chàng chẳng say ?
Những nơi chiếu cói , võng đai
Điếu sành xe sậy , chàng say la đà ?
Chồng người vác giáo săn beo
Chồng em vác đũa săn mèo khắp mân.
Bưng được miệng chĩnh , miệng vò
Nào ai bưng được miệng o , miệng dì.
Còn trời còn nước còn non
Còn cô bán rượu , anh còn say sưa.
Vì chuôm cho cá bén đăng
Vì tình nên phải đi trăng về mờ.
Chơi chữ theo cách dùng từ trái nghĩa :
TD :
Kể từ bến Tử ra đi
Sắm sanh thuyền lạt , thiếu gì nữa đâu .
Vua nỏ ra vua , quan nỏ ra quan
Lọng vàng thì có , lòng vàng thì không.
Nước trong khe suối chảy ra ,
Mình chê ta đục , mình đà trong chưa.
Con quạ đen , con cò trắng
Con ếch ngắn , con rắn dài
Em trông anh trông mãi trông hoài
Trông cho thấy mặt như bày liền pho.
Anh mong làm bạn với trời ,
Trời cao anh thấp , biết đời nào quen.
::::::::::::::::::::::
Hai đơn vị trái nghĩa kết hợp với nhau theo lối bổ nghĩa sóng kèm trong cùng một văn bản , tạo hai mặt nghĩa vừa tách bạch , vừa gắn kết , như hai mặt của một tờ giấy , thí dụ như bài sau :
Dại Khôn
Làm người có dại mới nên khôn ,
Chớ dại ngây si , chớ quá khôn.
Khôn được ích mình , đừng rẽ dại ,
Dại thì giữ phận chớ tranh khôn.
Khôn mà hiểm độc là khôn dại ,
Dại vốn hiền lành ấy dại khôn.
Chớ cậy rằng khôn khinh kẻ dại ,
Gặp thời , dại cũng hóa nên khôn.
Nguyễn Bỉnh Khiêm
Chơi chữ theo cách dùng từ cùng trường ngữ nghĩa :
Cách chơi chữ dùng từ cùng trường ngữ nghĩatrong ca dao , có thể chia làm hai loại :
# Loại trực tiếp nêu ra các từ cùng trường ngữ nghĩa.
## Loại gián tiếp nêu ra các từ cùng trường ngữ nghĩa được biểu hiện qua các hiện tượng cùng âm.
Loại trực tiếp nêu ra các từ cùng trường ngữ nghĩa :
TD :
Cha chài , mẹ lưới , con câu
Chàng rể đi tát , con dâu đi mò.
Đường đi cả lách với lau
Cả tràm với chổi bỏ nhau răng đành.
Khi xưa anh những đi hàn
Bên lò , bên bễ , bên than , bên đồng.
Trông xuân rồi lại đợi hè ,
Thu qua không thấy , đông về cũng không.
Một chờ , hai đợi , ba trông
Bốn thương , năm nhớ , bảy tám chín mong.
Rú , rừng , núi , động , đèo , truông ,
Ngàn xanh cách trở , mấy luồng cũng theo.
Bể , hồ , khe , hói , lạch , rào ,
Sông sâu nước lội , ước ao kết nguyền.
Xét về mặt cấu tạo , các từ thuộc vào mỗi trường hợp vừa nêu đều xuất hiện trực tiếp trong các kết hợp bình thường. Riêng với bài sau cùng , lời đáp thuộc dòng tám có thêm hai từ " sông " và " ao " là hai từ thuộc trường " bể , hồ , khe , hói ".... Dù có thể gạt hai từ này ra như đã làm ở trên ( vì chúng đi lệch khỏi yêu cầu của nguyên tắc tương xứng - tương xứng với lời rao , chỉ sáu từ ) ; nhưng việc xem xét , xếp chúng vào các từ cùng trường , càng cho chúng ta nhận rõ hơn điều vừa nhận xét ; Chỉ trừ việc từ " ao" được tách ra ở " ước ao " , tức nhận dạng trường ngữ nghĩa từ hiện tượng cùng âm sắp đề cập.
*****************
Khóc Tổng Cóc
Chàng Cóc ơi ! Chàng Cóc ơi !
Thiếp bén duyên chàng có thế thôi.
Nòng nọc đứt đuôi từ đây nhé ,
Nghìn vàng khôn chuộc dấu bôi vôi.
Hồ Xuân Hương
Gián tiếp nêu ra các từ cùng trường ngữ nghĩa qua các hiện tượng cùng âm :
Đây là cách chơi chữ thường gặp trong ca dao. So với loại trực , thì hình thức gián tiếp dụng công nhiều hơn về mặt nghệ thuật , nên hiệu quả thẩm mỹ cũng thường cao hơn.
TD :
Đêm thu , đông khách văn nhân
Hạ tình tưởng đến , gái xuân liệu lời.
Giả đò neo chiếc thuyền tình ,
Bạn bè mối lái , tơ mành gấp ghe.
Trắng trong giữ giá nhà vàng,
Răng đen má đỏ , đợi chàng đầu xanh.
Bà già mặc áo bông chanh ,
Ngồi trong đám hẹ , nói hành nàng dâu.
( Đối ) Con bò vàng ăn hòn núi bạc ,
Con chàng hương núp bóng cây đèn.
( Đáp ) _ Con ve ve kêu hòn núi chén
Dây bát bát leo núi Ngự Bình.
Đôi hồi dan díu vì duyên ,
Ra tay kèo kẻ , hẳn hiên con nhà.
Chị Xuân đi chợ mùa hè ,
Mua cá thu về chợ hãy còn đông.
Anh Hươu đi chợ Đồng Nai ,
Bước qua bến Nghé , ngồi nhai thịt bò.
/ Ca dao chơi chữ bằng phương tiện từ vựng - ngữ nghĩa :
***** Chơi chữ theo cách dùng các đơn vị Hán Việt và thuần Việt có ý nghĩa tương đương :
Nhằm mục đích chơi chữ trong ca dao , tạm thời được chia làm hai loại :
# Trực tiếp nêu lên các từ Hán Việt.
## Gián tiếp nêu lên các từ Hán Việt ( qua hiện tượng cùng âm.)
Trực tiếp nêu lên các từ Hán Việt :
TD :
Kỳ sơn , kỳ thủy , kỳ phùng ,
Lạ non , lạ nước , lạ lùng gặp nhau.
Tri nhân , tri diện , tri tâm
Kháp người , kháp mặt , kháp tri âm với nường.
Hữu khách dượt mã đáo tiền môn ,
Có người viễn khách giong con ngựa vào.
Mừng nay hổ đấu , long tranh ,
Hùm đua sức mạnh , rồng giành trí khôn.
Nguyệt viên gặp hội trăng tròn ,
Trai xinh thập ngũ , gái dòn mười lăm.
Thanh xuân gặp tuổi xuân xanh ,
Trai tơ trấp nhị , khách tình hăm hai.
~=~=~=~=~=~
Bảo mã tây phong huếch hoác lai ,
Huênh hoanh nhân tự thác đề hồi.
Viên trung oanh chuyển khề khà ngữ ,
Dã ngoại đào hoa lấm tấm khai.
Xuân nhật bất văn sương lộp bộp ,
Thiên thu chỉ kiến vũ bài nhài.
Khù khờ tri tứ đa nhân thức ,
Khệnh khạng tương lai vấn tú tài. ***
Cao Bá Quát
Gió đưa ngựa huếch hoác về ,
Huênh hoang người cũng tự đi theo vào.
Khề khà oanh hót vườn nào ,
Ngoài đồng lấm tấm hoa đào nở hoa.
Xuân không sương lộp bộp sa ,
Trời thu chỉ thấy giọt thu bài nhài.
Khù khờ thơ đã quen tai ,
Còn đem khệnh khạng hỏi người làng văn.
Tiêu Long dịch [/i]
*** : những từ được in chữ thẳng là từ thuần Việt ; đã được tác giả làm xen vào bài thơ dùng từ Hán Việt.
****************
Thăng Long Hoài Cổ
Tạo hóa gây chi cuộc hí trường ,
Đến nay thấm thoát mấy tinh sương.
Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo ,
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương.
Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt ,
Nước còn cau mặt với tang thương.
Ngàn năm gương cũ soi kim cổ ,
Cảnh đấy người đây luống đoạn trường. ***
Bà Huyện Thanh Quan.
*** : Những chữ in chữ thẳng là những từ Hán Việt được lồng vào bài thơ thuần Việt Gián tiếp nêu lên các từ Hán Việt (qua hiện tượng cùng âm ) :
Cách chơi chữ này thường gặp hơn là cách trực tiếp , nó thuận cú pháp hơn ( lời lẽ trôi chảy hơn ) , và đòi hỏi người sử dụng phải dụng công nhiều về mặt nghệ thuật để có được một đơn vị Hán Việt nẩy ra từ hiện tượng cùng âm , và rồi đơn vị cùng âm này lại cùng nghĩa với một tổ hợp thuần Việt khác trong cùng ngữ cảnh.
TD :
Có răng nói thật đi nha ,
Lúc trăng đang tỏ , lúc hoa đang thì.
Lời giải : Chữ " nha " hình thành do cùng nghĩa với " răng " , từ chữ nha ( trợ từ , biểu thị thái độ thân mật , với ý mong người đối thoại đồng tình với ý kiến của mình ). Tác dụng của nha là tạo sự chú ý về ý kiến của người nói đối với người đối thoại , sau khi gây thú vị về chữ nghĩa cho họ ( ở đây , ko chỉ nha mà cả răng trong văn cảnh là từ địa phương ( là một đại từ , có nghĩa là : sao , thế nào )
Nam Đàn gió thổi phi phong ,
Vân Sơn mây bá , Phù Long rồng chầu.
Dở dang , dang dở vì sông ,
Ngày làm công nhật , đêm trông dạ chàng.
Tưởng tơ , tơ tưởng vì tơ ,
Trăng lồng bóng nguyệt , gió đưa phong tình.
Cha con thầy thuốc về làng ,
Hồi hương phụ tử , thì chàng đối chi ?
_ Con vua đi xứ cửa trời,
Thiên môn quân tử , đã tỏ lời chưa em ?
Đối : Rắn hổ đất leo cây thục địa ,
Ngựa nhà trời ăn cỏ chỉ thiên ,
Chữ rằng cầm sắc nhân duyên ,
Trai bên chàng đối đặng , em xin kết nguyền trăm năm ?
Đáp : Thầy phù thủy đi trên mặt nước ,
Thợ Thanh Long chạm chữ đầu rồng ,
Phu thê giữ vẹn chữ đồng ,
Trai nam nhơn đà đối đặng , hỏi thiếp có xứng nghĩa vợ chồng hay ko ?
Đối : Áo vắt vai , quần hai ống ướt ,
Chữ nghĩa chừng nào , anh lấn lướt vô thi ?
Tiền năm quan ngủ quán mất đi ,
Đố trai nam nhơn đối đặng , gái nữ nhi kết nguyền?
Đáp : Quần không xăn , nên quần ống ướt ,
Mồ hôi sa như nước , cởi áo vắt vai.
Nghe trên mở hội thi tài ,
Anh về ôm sách vở. ôm bài ra thi.
Tiền năm quan ngủ quán mang đi ,
Bạc lục nguyên sáu gói còn y.
Trai nam nhơn đà đối đặng , gái nữ nhi phải theo về.
Cục đá trắng em để trên bàn thạch ,
Cây huỳnh long chạm lấy cốt rồng.
Em tưởng là đây vợ đó chồng ,
Hay đâu ông trời khiến dây tơ hồng không se.
Đối : Mẹ thương con qua cầu Ái Tử
Gái trông chồng đứng núi Vọng Phu.
Chàng mà đối được ,.......
Đáp : Lúa ba trăng cấy hồ bán nguyệt ,
Con hươu sao ăn lá hoàng tinh.
Anh đà đối được , em thuận tình nha em.
Đối : Cây tam thất trồng ba bảy chậu ,
Pháo nhất thiên đốt một ngàn phong
Trai nam nhơn mà.........
Đáp : Tay anh cầm cây đàn thập lục , gảy mười sáu bản ,
Nọ ngũ môn năm cửa mở rồi ,
Trai nam nhơn xin hỏi , câu trả lời có xứng ko?
Nhớ anh nhất nhật một ngày ,
Đêm tơ tưởng dạ , lòng rày nhớ trông.
Chờ em nữa tháng ni rồi
Ôm đàn bán nguyệt , dựa ngồi cung trăng.
Con gà cồ lại mổ bông kê ,
Ngựa ăn cồn mả , rồng về Cảnh Long.
Dương đi dê lại có vòng ,
Cá lên khỏi nước cá hòng ngất ngư.
Con mèo nùp đám lúa miêu ,
Hùm nằm đất hổ , tượng trèo cồn voi.
Chim ăn có điểu ra đòi ,
Trâu ăn ngưu bãi , thỏ chòi thố cơm.
Một số dạng chơi chữ hổn hợp :
Chơi chữ hỗn hợp là hình thức chơi chữ có sự kết hợp của nhiều cách chơi chữ khác nhau. Các cách chơi chữ này phần lớn dùng phương tiện từ vựng - ngữ nghĩa. Nhưng cũng có một số trường hợp có sự tham gia của phương tiện ngữ âm và chữ viết. Như một số các loại sau :
Chơi chữ theo cách dùng từ trái nghĩa kết hợp với dùng từ cùng trường ngữ nghĩa :
TD :
Giàn hoa bể cạn nước đầy ,
Cá vàng hóa bạc, chàng rày đối chi?
Thuyền tình sào vắn , sông sâu ,
Tàu đồng neo sắt , gái đâu dám chèo.
Chơi chữ theo cách dùng từ trái nghĩa kết hợp với dùng các đơn vị Hán Việt và thuần Việt có cùng ý nghĩa tương đương :
TD :
Trời mưa bể cạn nước đầy ,
Hai voi đi lưỡng tưởng , hỏi các thầy đố chi ?
_ Lửa cháy rừng xanh , cây đỏ ,
Bảy khỉ chạy thất thơ , thầy xin tỏ cùng ai.
Chơi chữ theo cách dùng các đơn vị Hán Việt , Pháp Việt và thuần Việt có ý nghĩa tương đương :
TD :
Đối : Năm con chim xanh đậu cành cây ngủ ,
Sáu con bọ xít sắc lục đó tề !
Đáp : Tám con tu hú kêu cây bát bát ,
Mười con chuồng chuồng đỏ đít , lượn thập ác nhà.
Chơi chữ bằng phương tiện cùng âm kết hợp với dùng các đơn vị Hán Việt và thuần Việt có ý nghĩa tương đương :
TD :
Nồi ba nấu cháo ba ba ,
Tam tam như cửu , hỏi đà chìn chưa ?
Ngồi mà dựa cột nhà vàng ,
Mình vàng vàng võ , nhớ chàng kim âu.
Ngồi mà dựa bóng đèn xanh ,
Mắt xanh xanh biếc , nhớ ngành thanh xuân.
Kim là vàng , kim là nay ,
Phùng là gặp , phùng là may ,
Tối hôm nay may gặp bạn tương phùng ,
Kim vàng may tấm tình chung nỉ vàng.
Đăng là đèn , đăng là lên ,
Thành là thật , thành là nên ,
Lập tâm thành chí mới nên ,
Toan đem tay ngọc gạt thêm ngọn đèn.
Ca dao chơi chữ bằng phương tiện ngữ pháp :
Với phương tiện ngữ pháp , ca dao có các hình thức chơi chữ theo cách tách từ ngữ để đặt vào một cấu trúc đối xứng , cách đảo trật tự , vị trí từ ngữ để làm thay đổi chức năng ngữ pháp , ngữ nghĩa và cách tạo ra một ngữ cảnh để biến một tên gọi sự vật , hiện tượng thành một nòng cốt đơn.
* Chơi chữ theo cách tách từ ngữ để đặt vào một cấu trúc đối xứng :
# Tách từ để đặt vào cấu trúc đối xứng : được chia làm hai loại : loại tách từ và loại tách ngữ.
a ) - Loại tách từ :
TD :
Chớ nghe lời phỉnh tiếng phờ ,
Thò tay vào lờ , mắc kẹt cái hom.
Người ta đi đôi về đôi ,
Thân anh đi lẽ về loi một mình.
Đất đâu đất lạ đất lùng ,
Đi làm lại có thổ công ngồi bờ.
Thổ công không có người thờ ,
Cho nên mới phải vẩn vơ ngoài đồng.
Ai chồng ai vợ mặc ai ,
Bao giờ ra bảng ra bài sẻ hay.
Bao giờ tiền cưới trao tay ,
Tiền cheo rấp nước , mới ra vợ chồng.
Trọng người , người lại trọng thân ,
Khinh đi rẻ lại như lần trôn quang.
b ) - Loại tách ngữ để đặt vào cấu trúc đối xứng :
Ngữ được tách thường là ngữ cố định ( bản thân ngữ cố định này có thể là tục ngữ hoặc thành ngữ.)
TD :
Giang sơn một gánh cheo leo
Qua sông nỉ nước , qua đèo nỉ non.
Kháp chàng em cũng muốn chàng ,
Sợ rằng môi hở , gió vào lạnh răng.
Chàng về đường trúc ngỏ trắc ,
Khác chi biển bắc xa khơi ,
Thiếp đây khác thể chim trời ,
Chàng như cá nước , biết mấy đời gặp nhau.
Lời giải : _ Trong câu ca dao đầu , nỉ non -> nỉ nước và nỉ non -> " qua sông nỉ nước , qua đèo nỉ non ". Nỉ non : tỉ tê chuyện tâm tình , ko liên quan về nghĩa với núi non , nhưng khi tạo ra một hình ảnh nước , thì non lập tức biến thành núi non trong thể đối lập về nghĩa ( hoặc trái nghĩa ). Và nỉ non theo nghĩa của Văn cảnh là tỉ tê than vãn cùng núi sông. Đây là một diển tiến ngược ( của quá trình sáng tạo ) , nó thường hình thành , Sau một diển tiến xuôi , Qua sông , qua đèo ( và nỉ non được liên tưởng đề lắp vào mô hình tiểu đối này.)
~=~=~=~=~
Thương Vợ
Quanh năm buôn bán ở mom sông ,
Nuôi đủ năm con với một chồng.
Lặn lội thân cò khi quãng vắng
Eo sèo mặt nước buổi đò đông.
Một duyên hai nợ âu đành phận.
Năm nắng mười mưa dám quản công
Cha mẹ thói đời ăn ở bạc ,
Có chồng hờ hửng cũng như không.
Trần Tế Xương
Các từ duyên nợ , nắng mưa : được tách đôi trong Một duyên hai nợ , Năm nắng mười mưa đã trạo nên những nét nghĩa riêng...làm nổi bậc cái khổ của người vợ.
Chơi chữ theo cách đảo trật tự , vị trí từ ngữ để làm thay đổi chức năng ngữ pháp , ngữ nghĩa :
Có thể chia hình thức chơi chữ này làm hai loại : loại đảo trật tự từ ngữ và loại đảo vị trí từ ngữ.
# Đảo trật tự từ ngữ để làm thay đổi chức năng ngữ pháp , ngữ nghĩa :
TD :
Tình ngay em phải nói ngay ,
Ai mà chồng có , cối xay nghiến liền.
Đôi ta như chỉ , chỉ se ,
Xỏ kim , kim xỏ ; may hè , hè may.
Muốn lấy chồng mà chồng không lấy ,
Biết họ nhà chồng bán mấy mà mua ,
Mong cho thiên hạ được mùa ,
Đi gặt đi hái mà mua lấy chồng.
## Đảo vị trí từ ngữ để làm thay đổi chức năng ngữ pháp , ngữ nghĩa :
Hình thức này khá phổ biến trong ca dao ,
TD :
Nếu em còn ngại ,
Qua thề lại cho em mừng :
Đứa nào được Tấn quên Tần
Xuống sông cọp nít , lên rừng sấu tha.
Người thề đã đưa ra lời thề nặng để biện giải cho lòng chung thủy ; Thế nhưng hình phạt kia ko hề xảy ra , bởi vì dưới sông làm gì có cọp và chốn núi rừng cũng chẳng có sấu. Rốt cuộc , lời thề kia chẳng có ý nghĩa gì.
TD :
Dầu mà cỏ mọc trên trời ,
Sao sa xuống đất , cũng ko rời nợ duyên.
Chừng nào đá nổi vung chìm ,
Muối chua chanh mặn , mới tìm được em.
Bao giờ chạch đẻ ngọn đa ,
Sáo đẻ dưới nước thì ta lấy mình.
""""""""""'''
TD :
Cửa Sổ Đêm Khuya
Đọc xuôi :
Hoa cười nguyệt dọi cửa lồng gương ,
Lạ cảnh buồn thêm nổi vấn vương
Tha thướt liễu in hồ gợn bóng
Hững hờ mai thoảng gió đưa hương
Xa người nhớ cảnh tình lai láng
Vắng bạn ngâm thơ rượu bẽ bàng
Qua lại yến ngàn dâu ủ lá ,
Hòa đàn sẳn có dế bên tường.
Đọc ngược :
Tường bên dế có sẵn đàn hòa
Lá ũ dâu ngàn yến lại qua
Bàng bẽ rượu thơ ngâm bạn vắng
Láng lai tình cảnh nhớ người xa
Hương đưa gió thoảng mai hờ hững
Bóng gợn hồ in liễu thướt tha
Vương vấn nổi thêm buồn cảnh lạ
Gương lồng cửa dọi nguyệt cười hoa.
Hàn Mặc Tử
*** Chơi chữ theo cách tạo ra một ngữ cảnh để biến tên gọi một sự vật , hiện tượng thành một nòng cốt đơn :
Hầu hết các tên gọi sự vật , hiện tượng dược dùng để chơi chữ theo cách này là tên động vật , thực vật , Một số tên người , tên đất , tên vật dụng....cũng xuất hiện , nhưng ko phổ biến bằng. Ngữ cảnh được tạo ra để biến một tên gọi sự vật , hiện tượng ( thường là hai âm tiết ) thành một nòng cốt đơn ( hoặc một cấu trúc C -- V ) , là nêu một tổ hợp có tính chất trái nghĩa với âm tiết thứ hai của tên gọi này , hoặc phủ định một hành động là nguyên nhân của hành động được biểu hiện ở âm tiết thứ hai của tên gọi , hoặc phủ định một bộ phận cơ thể là tác nhân của hành động được biểu hiện ở âm tiết thứ hai của tên gọi , hoặc chất vần về sự bất hợp lý của âm tiết thứ nhất đối với âm tiết thứ hai ( tất cả đều được hình thành trên cơ sở cùng âm ).
# Nêu một tổ hợp có tính chất trái ngĩa với âm tiết thứ hai của tên gọi :
TD :
Đối : _ Con ngựa chạy giữa đàng , nói con ngựa cất ,
Con cá bán giữa chợ , nói con cá thu.
Đáp : _ Con rắn bò giữa đàng , nói con rắn lại ,
Con cá lội dưới nước , nói con cá leo.
Đối : _ Bánh cả thúng , răng gọi là bánh ít ,
Trầu cả khay , sao vẫn gọi trầu không?
Đáp : _ Con cá chưa tra , răng gọi là cá móm ,
Con cá nằm giữa chợ , răng gọi cá thu?
Con mèo không rách , sao kêu mèo vá ,
Cọng cỏ trơn da , sao cho cỏ lác ,
Con cò không nhát , sao gọi cò ma ,
Con cá không thờ , sao bảo cá linh.
Phủ định một hành động là nguyên nhân của hành động được biểu hiện ở âm tiết thứ hai của tên gọi :
TD :
Ai lôi ông Tể , mà ông Tể Ngã ,
Ai lôi ông Phàn , mà ông Phàn Trì ;
Ai đạp ông Cô , mà ông Cô Trúc ,
Ai đơm vua Vũ , mà vua Vũ Vương.
Cây săng trên rừng không ai kêu mà cây săng dạ ,
Cây mít dưới khe không ai kiện mà cây mít nài ;
Cái phên trước nhà không ai mời sao cái phên cáo ,
Cái giại sau hè không ai gọi , răng cái giại thưa.
Mặt trời không lôn * , răng kêu mặt trời mọc ,
Trăng không giận , răng bảo trăng quờng *.
Gà không rang , răng kêu gà nổ ,
Chó không nướng , răng bảo chó vàng.
lôn = trồng
quờng = cuồng ( từ địa phương Bình trị Thiên )
Phủ Định một bộ phận cơ thể là tác nhân của hành động được biểu hiện ở âm tiết thứ hai của tên gọi :
TD :
Đá không chân , sao anh gọi là Đá Nhảy ,
Cát không mồm miệng , sao anh bảo Cát Gầm ?
Ai xa không biết nên lầm ,
Khoai lang xắt lát , cứ ngỡ sâm bên Tàu.
Nước không chân , sao rằng nước đứng ,
Cá không giò , sao gọi cá leo ,
Ghe không tay , sao kêu ghe vạch ,
Bánh không cẳng , sao gọi bánh bò?
Chất vấn về sự bất hợp lý của âm tiết thứ nhất đối với âm tiết thứ hai :
TD :
Trăng bao nhiêu tuổi , trăng già ,
Núi bao nhiêu tuổi gọi là núi non ?
Chuối chi đã chuối lại cau ,
Đã mía sao gọi mía lau , hả chàng?
Chuối mà cau còn khá ,
Mía mà lau cũng chưa lạ , em ơi.
Cá mà bò mới sự ngược đời ,
Đã rắn lại hổ , thế thời thiếu chi.
Nói lái trong ca dao :
* Nói lái theo cách hoán vị âm tiết rồi chuyển đổi dấu thanh :
TD :
Cơm ăn chẳng hết thì treo ,
Việc làm chẳng hết thì meo mặt vào.
Tưởng rằng ô máy thì sang ,
Ai ngờ ô máy che ngang mặt trời.
Con dê con ngựa khác dòng ,
Ai cho con ngựa lộn cùng con dê.
** Nói lái theo cách giữ nguyên phụ âm đầu rồi hoán vị phần vần , dấu thanh có thể chuyển đổi hay giữ nguyên.
# Cả vế lái hay vế thuận đều xuất hiện :
TD :
Hát bai , hai bát không no ,
Còn một miếng cháy , kéo co vỡ rồi.
Ông già , chẳng lấy ông đâu ,
Ông đừng câu rạo , cạo râu làm gì.
Hay nôm gặp bạn hôm nay ,
Thấy chàng có một tháng chầy không đi ?
Đi rông gặp hội đông ri ,
Thi đường bông vải thường đi cõi này.
Cố ra xách rá cá rô ,
Cố bị trượt ngã , xuống hồ cá bơi.
Bà vô vô ý bồ va ,
Bồ lăn , bà ngã mắt hoa tối sầm.
Cá có đâu mà anh ngồi câu đó ,
Biết có không mà công khó , anh ơi ?
Anh ra đây em vẽ cho một nơi cá nhiều.
Anh ngồi đây ngày đôi ba lượt ,
Biết mất công mong cất con cá diết lên.
Để anh về làm giống nhân trên ruộng đồng.
## Chỉ vế lái xuất hiện :
TD:
Anh về câu rạo anh đi ,
Mai sao trải lẹ ta thì kết đôi.
Ông sư là ông sư hinh ,
Thấy o má đỏ , mắt tình liếc đưa.
O cười răng bóng hạt dưa ,
Sư lần tràng hạt , đứng ngơ ngẩn người.
( nam : ) Em không đến nhà mà coi ,
Trên thì lợp ngói , dưới gương soi bốn bề.
( nữ : ) Em cũng đến nhà anh mà về ,
Trên thì lợp lá , tứ bề chói mo.
Nực cười chữ nãi là bèn ,
Mất tiền mà có ai khen chi mình.
Đêm năm canh nằm sầu cô đạnh
Ngày sáu khắc nhớ má với cằm.
**********
TD:
Trông khống vô phòng thấy trống không
Chứa chan sầu lệ chán chưa chồng
Dòng châu lai láng dầu chong đợi
Bóng nhạn lưng chừng , bạn nhóng trông
Nhòm ngó đã cùng nơi ngã đó
Mơ mồng bên cạnh gối mền bông
Đêm thâu mưa gió đâu thêm mãi
Xông lướt đi tìm phải xướt lông.
Nguyễn Khoa Vy
Chơi chữ dựa vào tiền giả định là dữ liệu văn hóa , văn học :
Tiền giả định là những hiểu biết được xem là bất tất phải bàn cãi , bởi đã được các bên giao tiếp mặc nhiên thừa nhận và dựa vào chúng để tạo nên ý nghĩa tường minh trong phát ngôn của mình. Trong sáng tác và tiếp nhận văn học , đặc biệt là văn cổ học. Tiền giả định chính là các dự liệu văn học , văn hóa ( tục ngữ , truyền thuyết , lịch sử , điển cố văn học , tác phẩm thơ văn....) được sử dụng , vận dụng một cách tự nhiên , đương nhiên khi cần ( mà ko phải giới thuyết , chú giải gì )
Chơi chữ theo cách tách một hoặc một vài yếu tố từ chỉnh thể dữ liệu văn học , văn hóa và đặt vào ngữ cảnh mâu thuẩn với ý nghĩa vốn có của dữ liệu được tách :
* Dữ liệu bị tách thuộc văn hóa dân gian :
TD :
Mấy cậu học trò đến chọc ghẹo một cô gái , cô này ra một vế đối :
Yêu nhau như bâu , như dót , như hót vào thúng , như búng con quay , như xoay thợ tiện , như bện hàng tơ.
Mấy cậu chịu bí , từ đó họ tránh đường đi ngang qua nhà cô gái ; Khốn nổi ko có ngỏ nào khác hơn , đành phải chui rào để tới lớp. Thầy dạy họ là ông Nghè Nguyễn Quý Tân biết chuyện , mới bày cho cách đối lại rằng :
Lấy đây có bầu , có bạn , có ván cơm xôi , có nồi cơm nếp , có dệp bánh chưng , có lưng hũ rượu.
Vế đối lại chẳng những tương xứng với vế thách ( bên tình cảm khắn khích , đằng của cải phong lưu ) mà còn mở ra trước mắt người đọc một cảnh tượng nô đùa vui vẻ của trẻ thơ , do lời đồng dao " ông giẳng , ông giăng xuống chơi với tôi có bầu có bạn ,...." tạo nên.
** Dữ liệu bị tách thuộc kinh điển văn chương bác học :
TD :
Cái Ống Máng
Trên vì nước , dưới vì nhà
Lòng này ai tỏ cho ta hỡi lòng !
Nhìn càng lã chã giọt hồng ,
Nổi lòng ai ở trong lòng mà ra.
Bài thơ vịnh Cái Ống Máng là do bốn dòng trong truyện Kiều được tách ra và ghép lại mà thành.
*** Dữ liệu thuộc văn hóa dân gian :
TD : có bài ca dao mới :
Con cò lặn lội bờ sông ,
Gánh gạo nuôi chồng ăn học y khoa
Nay chừ quan đốc nhà ta
Mở tư phòng mạch , ô voa con cò.
Nhất Lâm
Được làm dựa theo bài ca dao sau :
Con cò lặn lội bờ ao ,
Gánh gạo đưa chồng , tiếng khóc nỉ non
Em về nuôi cái cùng con ,
Để anh đi trẩy nước non Cao Bằng.
(St tu internet)
Phan Quốc Tuấn @ 06:24 12/07/2009
Số lượt xem: 4174
- TIẾP TỤC CHUYỆN ĐẶT TÊN CON (11/07/09)
- ĐẶT TÊN CON (11/07/09)

Các ý kiến mới nhất