Hành trình Thư pháp Hán-Nôm
Gốc > Vườn Thư pháp >
Sưu tầm
Phan Quốc Tuấn @ 08:00 02/02/2011
Số lượt xem: 2628
 
HÀNH TRÌNH THƯ PHÁP HÁN NÔM
THƯ PHÁP HÁN-NÔM TRONG ĐỜI SỐNG VIỆT
Khảo cứu của Trịnh Quang Dũng và Đ.T. Lộc
Thư pháp Việt chắc chắn đã tồn tại từ rất lâu, tuy nhiên cũng chung số phận với các giá trị văn hóa khác tư liệu chính thống cũng bị “vắt kiệt” bởi chiến tranh,thiên tai và đặc biệt bởi chính sánh sách hủy diệt văn hóa Việt của kẻ thú ngoại bang.Tuy nhiên nếu chịu “lao tâm,nhọc sức” truy tìm,đó đây vẫn ẩn hiện những ánh hào quang của quá khứ giúp chúng ta dần nhận diện lại được những di sản văn hóa của cha ông. Ngày nay, thư pháp Hán-Nôm Việt đang dần phục hồi. Chúng ta hãy cùng nhau dấn than, lội ngược thờ gian truy tìm lại nền thư pháp của tổ tiên để bảo tồn cho muôn đời mai sau.
Hành trình Thư pháp Hán-Nôm
Từ khi Thái thú Sĩ Nhiếp và những người tiền nhiệm đưa chữ Hán sang Giao Châu như một phương tiện để thực hiện mục đích "văn trị giáo hóa", chữ Hán có cơ hội phát triển ở một vùng đất mới. An Nam chí lượcLê Tắc cho biết Thẩm Thuyên Kỳ và của đặc biệt là thư pháp gia Chử Toại Lương nổi danh Trung Quốc thời đó từng đã sang Giao Châu chứng tỏ có sự giao thoa, ảnh hưởng của thư pháp Trung Quốc sang Việt Nam. Việc phát hiện ra tấm bia Tùy Đại nghiệp Bảo An đạo tràng bi văn ở Đông Sơn-Thanh Hóa trên trán bia chạm chữ Triện rất hồn phác, văn bia viết theo lối chữ Khải đời Đường. Đó là một tư liệu rất quý ghi dấu nghệ thuật thư pháp đương thời trên đất Việt. Đến thời Đinh , Đinh Liễn cho dựng một loạt cột kinh đá bát giác chạm thần chú Lăng Nghiêm bằng thể chữ Khải rất đặc sắc, đặt ở ngã tư đường, hy vọng có nhiều người qua đây đọc được. Thần chú một khi được trì tụng (đọc) mới có sự linh nghiệm, đem lại công đức cho người đọc và cả cho chính Đinh Liễn, Tiên Hoàng đế và cho tất thảy chúng sinh. Ngoài ý nghĩa cầu siêu độ,tâm linh là điều cốt lõi trong việc dựng các cột kinh , mặt khác chúng ghi lại dấu tích hiếm hoi cho dòng thư pháp Việt Nam thời đầu tự chủ. Có thể khẳng định rằng một nền thư pháp Việt đã phôi thai song hành với nỗ lực ly khai khỏi phương Bắc là một ý niệm rõ nét có tính dân tộc.
Nhà Lý với việc dời đô ra Thăng Long, thiết lập nền độc lập tự chủ mang quốc hiệu Đại Việt, đã chính thức mở ra một chân trời mới cho văn hóa dân tộc phát triển, trong đó có thư pháp. Sau khi ổn định đất nước, nhà Lý đã cho dựng Văn Miếu-Quốc Tử giám mở khoa thi kén chọn hiền tài ra gánh vác triều cương đã chính thức đánh một dấu son mở dầu thời kỳ “Văn trị” của Đại việt và mặc nhiên thư pháp cũng bắt đầu được các danh sĩ đất Việt tôn vinh cho dù chúng ta chưa tìm đựơc những di vật vốn đã bị phôi phai bởi thời gian và chiến tranh. Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Mùa xuân mở hội Nhân Vương ở điện Thiên Anh. Đinh Tỵ, Anh Vũ Chiêu Thắng năm thứ 2 (1077), (Tống Hy Ninh năm thứ 10)... Tháng 2, thi lại viên bằng phép viết chữ…Kế tục triều Lý các triều tiếp theo vẫn trung thành với nguyên tắc "dĩ thư tuyển sĩ" (kén chọn kẻ sĩ qua chữ viết) thể hiện sự trân trọng thư pháp của Nho gia: “…Quý Mão, Đại Trị năm thứ 6 (1363), (Nguyên Chí Chính năm thứ 23). Tháng 3, thi học trò, hỏi văn nghệ để lấy người bổ sung vào quán các. Thi lại viên bằng viết chữ, lấy làm thuộc viên các sảnh, viện…(s.đ.d).
Giáp Thân(1404), (Hán Thương Khai Đại năm thứ 2, Minh Vĩnh Lạc năm thứ 2)...Phép thi phỏng theo lối văn tự ba trường của nhà Nguyên nhưng chia làm 4 kỳ, lại có kỳ thi viết chữ Đinh Tỵ, Thiệu Bình năm thứ 4 (1437), (Minh Chính Thống năm thứ 2)…Thi viết chữ làm tính, lấy đỗ 690 người, bổ làm thuộc lại các nha môn trong ngoài. Phép thi: Kỳ thứ nhất, thi viết ám tả cổ văn. Kỳ thứ hai, thi viết chữ chân, chữ thảo. Kỳ thứ ba, thi phép làm tính…”.
Như vậy, sử chính thống đã ghi chép việc Việt Nam có một nền Nho học và cách thi Nho học, đặc biệt cón cho biết vị trí quan trọng của thư pháp trong tuyển chọn hiền tài. Đáng tiếc chính sử chưa miêu tả được cụ thể cách thể hiện thể chữ, cách vận bút và các kỹ pháp quan trọng khác trong môn nghệ thuật này. May mắn thay chúng ta vẫn còn cơ hội quan chiêm di bút của nhiều bậc tiền nhân nhờ kho di sản “Cổ thư” Việt vương vãi khắp đó đây.Nét chữ và sĩ khí của hai bậc danh sĩ thời vua Lý Nhân Tông đề trên Đại Việt quốc Lý gia đệ tứ đế Sùng Thiện Diên Linh tháp bi vẫn như thách đố cũng thời gian. Tấm bia hiện dựng trong nhà bia trước chùa Long Đọi (tỉnh Hà Nam). Bia được dựng ngày 6 tháng 7 năm thứ 2 niên hiệu Thiên Phù Duệ Vũ (1121). Bài văn bia do Nguyễn Công Bật, Thượng Thư bộ Hình, vâng sắc soạn và Lý Bảo Cung vâng sắc viết chữ. Bia cao 2,40 m, rộng 2,24 m, chữ khắc hai mặt. Mặt trước có 55 dòng, gồm 4200 chữ. Trên trán bia khắc tiêu đề văn bia do chính vua Lý Nhân Tông ngự đề. Chữ viết theo lối Hành thảo, bút pháp linh động, có âm vận, bút đoạn ý liên .Đánh giá về bức thạch thư này, vua Lý Nhân Tông đã phải thốt lên:
“...Tinh phi bạch dĩ thông thần; Vận ngự hào chi tuyệt diệu. Long dược phượng tường chi thế, pháp tùng ngọc thủ; Loan hồi thước phản chi hình, thể xuất thần tâm.....” ( nghĩa là:giỏi phi bạch tới mức thông thần; vung ngòi ngự cực kỳ tuyệt diệu. Thế bút rồng vờn phượng múa, bút pháp cứ thế theo tay; Hình chữ như sẻ nhảy loan bay; các thể theo lòng mà xuất). Đời Trần còn lại ngự bút Lệ thư của vua Trần Duệ Tông đề trên “Thanh Hư động” bi ký đặt tại Côn Sơn. Vào năm 1308,nền thư pháp Việt còn được vinh danh ngay trên “đất thư pháp tổ” với câu chuyện quan sứ Mạc Đĩnh Chi phóng bút đề bài minh văn trên quạt với ý tứ hàm súc, nét bút như rông bay phượng múa khiến vua Nguyên thán phục xét cho hạng nhất ( Sứ Cao ly hạng nhì)lại còn cao hứng ban cho ngoại lệ phong “Lưỡng quốc Trạng nguyên”.
Nghệ thuật thư pháp Việt Nam có một dấu nhấn quan trọng vào thế kỷ 15. Bản tuyên ngôn độc lập nổi tiếng thuộc loại “Kim cổ hùng văn” của danh nhân Nguyễn Trãi với cũng có thể được coi là một tuyệt tác thư pháp. Người cháu xa của vị đại danh nho từng mang cho Lê quý Đôn xem tờ chế văn truy tặng Nguyễn Trãi là Tế văn Hầu đã phãi thốt lên: “Ông viết thư, thảo hịch như bay cả đời không ai theo kịp”. [1:224]. Nghệ thuật thư pháp thời kỳ này còn được tô đậm,tôn vinh bởi chính vị vua nổi tiếng uyên thâm nho học, võ công,văn trị vang dội trong lịch sử hào hùng của dân tộc. Sự công phu mài luyện thư pháp của Lê Thánh Tông, phản ánh qua bài thơ tập chữ thảo: Bài thơ Ngự chế: Lúc vui thành bài thơ về chữ Thảo(Mai Xuân Hải dịch):
Đường sổ, nét cong học cổ nhân,
Chiều tà tập Thảo lúc thong dong.
Vẫy vùng ngựa ký theo Từ Hạo,
Yếu ớt rắn trườn ghét Tử Vân.
Giấy đỏ tung hoành dường Liễu cốt,
Bút hoa hạ xuống vẻ Nhan cân.
Chí lớn tràn trề như định trước,
Tung hoành trời đất đẹp tuyệt trần.
Chiều tà tập Thảo lúc thong dong.
Vẫy vùng ngựa ký theo Từ Hạo,
Yếu ớt rắn trườn ghét Tử Vân.
Giấy đỏ tung hoành dường Liễu cốt,
Bút hoa hạ xuống vẻ Nhan cân.
Chí lớn tràn trề như định trước,
Tung hoành trời đất đẹp tuyệt trần.
Ngọn núi Truyền Đăng vùng Yên Quảng đã được dân gian đổi thành cái tên đầy chất lãng mạn thi ca: núi Bài thơ! Năm Quang thuận thứ 9 (1468) chính vị vua anh minh Lê Thánh Tông đi tuần thú qua đây, ngẫu hứng vung bút đề thơ. Gần 300 năm sau,ngày 28 tháng 2 năm Kỷ dậu (1729), Chúa An Đô Vương Trịnh Cương tuần du ngự duyệt thuỷ binh An Bang. Ngây ngất trước cảnh núi non mây biển hùng vĩ, trời nước giao hoà, nhân khi đọc thơ tiền nhân, Nhà Chúa hứng khởi tức sự đề thơ:
Ngàn trùng bể lớn, hội muôn sông
Núi lồng bóng nước, sóng mênh mông
Tay ai khéo nặn : bồng lai cảnh
Họa có trời cao mới dám ngông
Sử sách muôn đời lưu tích cũ
Nhắc mãi nơi này trói Nguyên-mông
Bốn bể thanh bình, vui xuân đến
Quân, Vương vùng vẫy chẳng hoài công
Tên núi Bài thơ được truyền tụng muôn đời từ đó cho tới ngày nay để lại cho hậu thế hai bức thư pháp đá trên vách núi với khẩu khí hào hùng, nét chữ khoáng đạt mạnh mẽ.Những dòng thư pháp quí giá này,nay vẫn còn lưu gữi ngay tại khu di sản thiên nhiên của nhân loại vịnh Hạ long.
Nghệ thuật thư pháp thời Lê-Trịnh và đầu Nguyễn đạt thời cực thịnh bởi được tôn vinh qua tác phẩm của hàng loạt các danh sĩ tiếng tăm đương thời mà đầu tiên nổi bật với vị Chúa có bút danh: Nhật nam Nguyên chủ -Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm (1767-1782). Dòng đại tự bất hủ “Nam Thiên Đệ Nhất Động”sừng sững trên vách hang Chùa Hương được khẳng định là của ông sau biết bao bút mực tranh cãi khi nhà văn Trần Tử Văn đã bắc 3 thang mây trèo lên để đọc được dòng lạc khoản: An nam Thống Quốc Chính Tĩnh Đô Vương đặc bút. Có lẽ ông là vị quân vương ngao du nhiều nơi nhất và đến đâu cũng để lại thư pháp của mình. Riêng Ninh Bình ông đến nhiều lần và khi thăm chùa Bàn Long ở thôn Khê Đầu Thượng, xã Ninh Xuân, huyện Hoa Lư, nhà Chúa ngự đề ba chữ lớn trên vách đá cửa động: "Bàn Long tự". Thấy trong động có nhũ đá dáng hình như rồng chầu nên gọi là "Bàn Long". Từ đó chùa có tên là "Bàn Long".Năm Giáp Ngọ (1774), trên đường hồi kinh Chúa Trịnh Sâm đến thăm chùa Bích Động thuộc thôn Đam Khê, xã Ninh Hải, huyện Hoa Lư. Nhìn toàn cảnh núi động, sông nước, đồng ruộng, cây cối đều xanh tươi, chùa miếu như hội tụ trên nền xanh đó, nên nhà Chúa đặt tên cho chùa là Bích Động (Động Xanh). Chuyến đi này là tuần hành ở biên giới trở về, qua Ninh Bình, có cả Nguyễn Nghiễm (thân sinh đại thi hào Nguyễn Du) đi theo. Trịnh Sâm đã giao cho Nguyễn Nghiễm viết hai chữ hán "Bích Động" có một dòng lạc khoản "Nhật Nam Nguyên chủ đặc bút” chạm khắc trên vách núi chùa. Hai chữ hán "Bích Động" viết theo lối đại tự chân phương, khuôn chữ dài 1,5 m vẫn còn trên sườn núi Bích Động. Lại có chữ "Nguyễn Nghiễm phụng đề". Được biết, để khắc các chữ này ở trên vách núi cao, những nghệ nhân phải làm ròng rã suốt 8 tháng trời.
Chùa Địch Lộng nằm trong động núi, thuộc xã Gia Thanh, huyện Gia Viễn cũng được chúa Trịnh Sâm đến thăm. Trong động có nhiều nhũ đá đẹp, thay đổi màu theo ánh sáng mặt trời. Rực hồng lúc rạng đông, lấp lánh sáng như pha lê lúc trưa hè và lại đỏ thẫm khi hoàng hôn buông xuống. Ngây ngất trước cảnh thiên nhiên kỳ thú nhà Chúa đã đề thơ vịnh cảnh và cho khắc vào vách đá:
"Nham sơn bán khải thanh thành mục,
Thạch nhũ toàn nhu bích túc cầu.
Triều thuỷ thiên nhiên thường thướng hạ,
Khê hoa chung cổ tự xuân thu".
(Cửa núi hé ra xanh xanh như cảnh màn che rủ,
Nhũ đá mềm mại biêng biếc như quả cầu tròn.
Nước thuỷ triều ngàn năm lên xuống,
Hoa trong khe núi đá trải bao thuở xuân thu).
Chúa Trịnh Sâm còn đến thăm Cố đô Hoa Lư thuộc xã Trường Yên, huyện Hoa Lư, đi thuyền qua hang Luồn (Xuyên Thuỷ Động). Khi đến đây, ông đã đặt tên cho hang là "Động Xuyên Sơn",đó là vào mùa đông năm Canh Dần (1770), sau khi đi tuần thú cõi Tây (vùng Thanh Hoá trở vào) lúc quay thuyền trở về. Ông còn làm một bài thơ, cho khắc trên vách núi hang Luồn. Hiện nay tấm bia khắc thơ vẫn còn. Bia cao 1,55 m, rộng 2,42 m, cách mặt nước lúc bình thường khoảng 4 m. Tất cả có 13 dòng chữ Hán viết từ phải sang trái, từ trên xuống dưới với tổng 142 chữ, được dịch nghĩa như sau:
"Mùa đông năm Canh Dần (1770) ta đi tuần thú cõi Tây, lúc quay thuyền trở về, đi tắt tới đất Tràng An thăm cảnh Hoa Lư. Ngoảnh nhìn bốn phía núi xanh, một dòng nước biếc, cửa khoá mấy lần, từng bước đều là thành vàng và hào nước nóng. Non sông của ta hùng tráng, hình thắng to lớn này thật là do trời đất tạo nên vậy. Xem dấu vết của triều Đinh thì tường đổ miếu hoang lạnh lùng xơ xác… khiến ta cảm khái làm một bài thơ để tả nỗi lòng:
"Quay thuyền về tới bến Trường Yên,
Nhác thấy Hoa Lư cũng thuận miền.
Như tấm lụa chăng, hang giội nước,
Có từng núi mọc, cửa chồng then.
Cố đô đã mấy hồi thay đổi,
Thiên phủ còn nguyên dấu vững bền.
Hưng phế xưa nay bao chuyện cũ
Lòng dân đáng sợ chớ nên quên."
Nhật Nam Nguyên chủ đề
Bề tôi là Cao Đàm vâng mệnh viết chữ
(Thi Nhan Đinh Gia Thuyết dịch thơ).
Trên đường lên động Hồ công hiện còn một tảng đá lớn vượt đầu người khắc lưu tuyệt tác bốn chữ thư pháp trên đá “Thanh kỳ khả ái” cũng của Nhật Nam Nguyên chủ bổ sung một cách phong phú cho di sản “Thư pháp” hiếm hoi của cha ông. Các bài thơ khắc trên vách đá của ông vẫn còn, dù trải qua bao độ phong sương, mưa nắng của đất trời, góp phần làm cho cảnh trí ở Ninh Bình thêm phần cổ kính, trang nghiêm, trí tuệ và đẹp hơn bội phần.
Phạm Đình Hổ(1768-1839), một danh sĩ cuối thời Lê-Trịnh, hiệu Đan Sơn, Đông Dã Tiều, tự là Tùng Niên, Bỉnh Trực, tục gọi là Chiêu Hổ là một nhân chứng sống cho môn thư pháp Việt cổ. Khi nhà Lê-Trịnh sụp đổ, Phạm Đình Hổ không dự khoa thi nào dưới thời Tây Sơn mà chuyển sang dạy học, có lúc viết thuê hiếu hỷ, hoành phi, câu đối….Ông dành nhiều thời gian cho việc tự học, nghiên cứu, không sa vào những thú vui tầm thường, không vì ngao ngán thế sự mà lơ là kinh sử. Phạm Đình Hổ đã bỏ cả cuộc đời, lao lực trên trang giấy, nên đã để lại cho đời sau nhiều tác phẩm giá trị như về thơ văn có Vũ Trung tuỳ bút, Tang thương ngẫu lụcĐông Dã học thi ngôn tập, Tùng các liên mai tứ hữu … các sách điển lệ có Lê triều hội điển (6 quyển), Bang giao điển lệ… về các thể loại khác có Phạm gia thế phả, Quốc thư tham khảo, Nhật tụng thường đàm…Cho dù không là nhà khoa bảng song người đời vẫn tôn vinh ông vào bậc đệ nhật danh sĩ Bắc hà và (viết chung với Nguyễn Án), các tập thơ như được vua Minh Mạng vời ra giữ chức hành tẩu Viện Hàn lâm trong khi ông chỉ là sinh đồ (Tú tài). Chính trong tác phẩm Vũ trung tùy bút của mình, Phạm Đình Hổ đã đánh dấu mốc quan trọng trong việc giới thiệu lịch sử thư pháp Việt Nam. Có thể nói, đây là những ghi chép vô giá , minh chứng quá trình phát triển của nền thư pháp Việt:“Nước Việt Nam ta, lối chữ viết từ đời Đinh, đời Lê trở về trước thì không trông thấy được nữa, còn lối chữ từ đời Lý, đời Trần trở về sau, thì bắt chước chữ đời nhà Tống, ở trong sách An Nam kỷ lược đã nói rõ. Nay còn thấy ở tấm bia núi Dũng Thúy và bài minh khắc vào chuông chùa Thiên Phúc núi Phật Tích, cùng là bài bia ở dinh cơ quan Tam Sương là Châu Công ở làng Châu Khê, huyện Đường An; bút pháp rất cổ kính. Còn như cái biển ba chữ "Đông Hoa Môn" thì chính là ngự bút vua nhà Lý, bút pháp hùng tú, tự nhiên, khác hẳn người tầm thường, những nét phẩy, mác, sổ, móc đã phôi thai ra một lối chữ nước Nam ta. Còn ba chữ "Đại Hưng Môn" thì là chữ hoành biển, chế ra từ đời Lê Hồng Đức, nét bút lẫn cả lối Chân, lối Khải; chữ cổ đến đời ấy đã có một bước biến cải. Khoảng năm Diên Thành đời nhà Mạc, con gái Đà Quốc Công là Mạc thị có dựng ra chùa Bối An, mài đá khắc một bài minh, nét chữ đầu cong, chân quẹo, hơi giống chữ viết bây giờ, nhưng bên tả vênh lên, bên hữu vẹo xuống, có hơi khác, thực là quái lạ! Dễ thường về đời Lê sơ và đời nhà Mạc, lối viết chữ đại lược như thế cả. Gần đây, lối chữ trong Thuận Quảng cũng gần giống như vậy; cũng là còn giữ lối chữ cũ như xưa. Từ đời Lê Trung Hưng trở về sau, những người đi học theo nghề khoa cử viết theo lối chữ Khải thời cổ, lại ngoa ngoắt thêm bớt, làm sai đi đến nửa phần, gọi là lối chữ Nho. Còn những giấy tờ ở chốn cửa công thì dùng riêng một lối chữ "Nam", lúc đầu là phòng dân gian làm giả mạo, mới theo hoa văn mà đặt ra một lối chữ việc quan. Ai học theo lối chữ ấy, thì sáu năm một lần thi, trúng tuyển được bổ sung vào chân thư tả ở trong các nha môn…... Bốn lối chữ Chân, Thảo, Triện, Lệ lâu nay không ai truyền dạy. Cũng có người tập các lối chữ ấy nhưng chỉ là tự ý học phỏng chừng…Trong khoảng năm Cảnh Hưng, chúa Trịnh Thịnh Vương lại thích lối chữ Trung Hoa, kẻ học giả đua theo, mới hơi thay đổi lối chữ Nam đi để cầu cho được người ưa thích. Không cứ là thể chữ nào, chỉ viết cho thẳng cho thô, cho vuông, cho cứng, để cầu hợp mắt người bấy giờ; có khi viết một chữ mà nét chấm là lối chữ Triện, móc là lối chữ Lệ, phẩy mác là nối chữ Chân, nếu gặp phải chữ rậm nét thì lại đá thảo để viết cho thông hoạt, gọi là lối chữ viết câu đối. Lối chữ Thảo thì bắt chước vũ kiếm mà quằn quèo, không có vẻ thanh tao, gọi là lối chữ đề thơ. Lại còn lối chữ viết Chân Phương, Chân Hành, Lão Thảo, Nộn Thảo, Đại Triện, Tiểu Triện, Cổ Lệ, Cổ Lựu, Tiểu Kỷ, Tiểu Khải, đều tùy ý mô phỏng mà viết…”,Ông cũng cho thấy rõ một không khí sinh hoạt thư pháp trang trọng,nhộn nhịp “...Ta có một người bạn là Hoàng Hy Đỗ, nguyên người Quảng Đông, phố Tấn Hội, từ đời cha mới sang ngụ ở Hoa Dương, trấn Sơn Nam, rồi thành người Việt Nam. Ông thông minh, dĩnh ngộ, các sách tiểu thuyết, dã sử, đều xem qua hết. Ông lại thích về nghề thơ, từ, ngâm, vịnh, phàm thơ của các danh gia từ đời Hán, Ngụy, Đường, Tống, Minh đều xem qua và đọc thuộc cả... Ông lúc nhỏ viết chữ Hành, chữ Thảo rất tốt, bắt chước được lối chữ của Mễ Nam Cung , Đổng Kỳ Xương, hễ cầm bút lên thì rụt rè như thể không viết được, nhưng đã đặt bút xuống giấy thì nét chữ tươi tắn, có cái ý nhị của hoa đào đọng giọt mưa bụi, lá dương phủ làn khói nhẹ. Các anh em bạn tri giao thường khi yến họp với nhau mà không biết mệt…Nhà ta có giữ được hai cái thiếp chữ thạch ấn là Lan Đình và thiếp Đa Bảo nhân đem ra tặng ông, ông mừng nói rằng: Đây là danh bút của hai đấng tiên hiền họ Vương, họ Nhan, song tiếc cho phường bản họ in ra cũng có hơi sai, không được đúng lắm.Mỗi khi đem ra trước cửa sổ để coi và bắt chước thử chơi, ông lấy làm trân trọng lắm...”.
Qua ghi chép của Phạm Đình Hổ, chúng ta phần nào hình dung ra “dáng dấp” thư pháp Việt, từ chuẩn mực nghệ thuật thư pháp Trung hoa biến hóa bổ sung sắc thái Việt tạo ra nền thư pháp riêng. Ẩn chứa trong những gì Phạm Đình Hổ viết vẫn là nỗi lòng của tác giả lo lắng trước những ảnh hưởng xã hội đến thư pháp, song tác giả không giấu được niềm tự hào của khi nhắc đến cách thể hiện của một nền thư pháp Việt trong tương quan với nghệ thuật thư pháp gốc Trung Hoa. Ở đây chính là những “nét chữ hùng tú đã phôi thai ra một thứ chữ nước Nam ta”. Thư pháp hán – nôm còn lưu dấu đậm nét qua nghệ thuật viết bằng sắc Việt nam và cưc thịnh suốt bốn thế kỷ 16-19. Đã tồn tại những cơ quan chuyên viết lệnh chỉ,chiếu và sắc của nhà nước. Các nho sĩ làm việc ở đây đều là những “thư pháp gia bậc thầy” của khải thư, triện thư. Loại hình thư pháp này chính thức cáo vong khi vương triều Nguyễn sụp đổ vào năm 1945.
Thế kỷ 19, danh nho Cao bá Quát người được tôn vinh như một “Thánh Thư” Việt đã góp phần đáng kể làm nổi danh nền thư pháp Hán-Nôm của Việt nam và để lại khá nhiều bút tích quý giá. Không phải ngẫu nhiên ông được vinh danh lên bậc “Thánh”. Chẳng những tài hoa văn chương của ông mang khí phách chọc trời khuấy nước đến cái độ: “Văn như Siêu,Quát vô tiền Hán”mà bút lực của ông viết ra như thác đổ triều dâng, chữ nghĩa như chiêng dồn trống dục khiến mọi người phải kính phục. Nhà giáo,danh sĩ Đường xuyên Vũ Mạc Phủ (Vũ Tông Phan) chắc chắn cũng là một thư pháp gia tài hoa của đất Thăng long văn hiến,ông còn lưu giữ bút tích bay bướm chữ thảo của mình qua hai câu thơ đề tại đền Ngọc sơn:
“Phong văn nước cũ truyền người trước
Mực thước đạo xưa dẫn kẻ sau”.
Thư pháp Việt cuối thế kỷ 19 còn ghi nhận một cách đầy tự hào sắc thái độc đáo khi cụ Tam nguyên Yên đổ phóng bút với Chữ hành phóng khoáng để thờ chân dung mình. Các cụ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh đều là những nhà thư pháp cự phách đầu thế kỷ 20. Chả thế mà năm 1905 trên đất nước Phù tang, hai nhà cách mạng,cũng là hai thư pháp gia lỗi lạc Trung hoa: Lương Khải Siêu và Tôn Dật Tiên không khỏi giật mình thán phục khi “đích mục sở thị” Phan tiên sinh động bút.
Tại Lâm Đồng-Đà Lạt, còn bảo quản bức thư pháp xưa đặt tại Dinh Toàn Quyền trước đây. Đó là tấm bình phong cổ, kê tại phòng khách Dinh II . Tấm Bình phong cổ được chế tác từ nhiều loai danh mộc quý hiếm, ghép lại với nhau. Bức bình phong được trang trí hoa văn, hoạ tiết cầu kỳ và tinh xảo ẩn chứa “diện mạo nghệ thuật cung đình” Việt Nam. Đây là bức thư pháp quý hiếm chạm 22 bài thơ bằng đủ thể loại chữ hán: chân, hành, thảo, lệ, triện ,trong đó có 18 bài thơ ngự chế của vua Tự Đức và 4 bài của Tuy Lý Vương. Bức bình phong này được vua Bảo Đại mang từ Đại nội Huế về tặng cho toàn quyền Đông Dương nhân dịp khánh thành Dinh II. Theo nhiều người khác, Chính Ngô Đình Nhu lúc đương quyền và lưu trú ở Dinh II, đã cho lấy bức bình phong từ Huế vào để trang trí theo truyền thống văn hóa đông phương.
Chùa Thiền Lâm tại Thái Phiên TP Đà Lạt. Ngày 15/12/2004, chùa Thiền Lâm đã tiến hành cuộc đại trùng tu 3 lầu khá quy mô, đến nay sau 4 năm, cơ bản phần chính diện đã hoàn thành. Tại lầu 2 của chùa có một bức thư pháp lớn được khắc chữ hán trên tường rất hoành tráng. Bức thư pháp này được khắc một bài kinh tựa đề “Nam Mô Quan Thế Âm Bồ Tát”. Chiều rộng của bức thư pháp khoảng 1,6m; chiều dài 3m, được khắc làm 34 dòng chữ Hán, mỗi dòng 13 chữ, tổng cộng 442 chữ Hán được khắc chân phương trên bức thư pháp này. Đây là bức thư pháp độc đáo nhất trong tất cả các chùa tại Đà Lạt. Bức thư pháp không những mang lại vẻ đẹp cho chùa, mà còn hấp dẫn đối với những du khách tới thăm viếng cảnh chùa.
Tại Tp Đà Lạt,ở tư gia ông Phạm Phú Thành đường Cao Bá Quát, dòng dõi cụ Phạm Phú Thứ ở Quảng Nam còn lưu giữ bức thư pháp đặc biệt. Ông Thành, một nhà giáo, một nhà hán học vẫn thường chăm chú đọc từng chữ trên bức thư pháp đang treo ở phòng khách cho khách tới thăm. Tựa đề của bức thư pháp là “Xuân Thanh từ”. Bức thư pháp viết bằng chữ Hán được sơn son thiếp vàng. Chiều rộng 80cm, chiều dài 2m, được khắc tổng cộng 77 chữ Hán. Nội dung của bức thư pháp này là lời cảm thán bi hoan vào dịp chuẩn bị lễ kỷ niệm ngày đức Khổng Tử đản sinh, cử hành tại Văn Miếu Diên Khánh tỉnh Khánh Hoà. Lời văn ngắn gọn, hàm súc triết lý nhân văn sâu sắc.
Cho dù nền nho học đã cáo chung ở Việt nam, song dòng thư pháp Hán-Nôm vẫn đang tồn tại và trên đà phục hối như tấm lòng hiếu thảo của lớp con cháu hướng về cội nguồn tổ tiên. Tục “xin chữ” ngày xuân đang trở lại và các bậc danh nho như Gs.Vũ Khiêu ,nghệ nhân như cụ Lê Xuân Hòa,cụ Lê văn Kinh vv… lại có đât dụng võ, có dịp vung bút theo những bậc thánh hiền tiền bối xưa. Các cụ đang là những đại diện hiếm hoi, dấu ấn cuối cùng của lớp nho học Việt nam đầu thế kỷ 20. Nhìn từ góc độ văn hóa, thư pháp Hán-Nôm là một phần di sản thiêng liêng trong dòng chảy văn hóa việt không thể để mai một. Mong sao “lớp măng non” trong vườn thư pháp Hán-Nôm sớm trưởng thành thay thế lớp tre già, ngõ hầu kịp bảo tồn vốn quý của tổ tiên cho muôn đời mai sau.
T.Q. Dũng & Đ.T.Lộc cẩn bút
Tài liệu tham khảo:
- Thư pháp là gì. Nxb. Văn nghệ, 2007.
- Vân đài loại . Nxb. Sài Gòn, 1973.
- Kể chuyện văn hoá truyền thống Trung Quốc. Nxb. Thế giới 2003.
- Tự điển phổ thông nghành nghề truyền thống. Nxb. ĐHQG 2000
- Làng cổ truyền Việt nam. Nxb. Thanh niên 2004
- Làng Việt nam nổi tiếng. Nxb. Thanh niên 2005
- Xưa & Nay số 283 tháng 5-2007.
- Di sản thủ công mỹ nghệ Việt . Nxb. Thanh niên 2000.
- Ngược đường trường thi Nxb. Bốn phương Sài gòn 1957
- Báo chí Việt nam từ khởi thuỷ đến 1945. Nxb. TP HCM 2000
- Nữ lưu đất Việt. Nxb. Đà Nẵng 2006
- Hồ hoàn Kiếm-Đền Ngọc sơn. Nxb. Trẻ 2003
- Vũ trung tùy bút. Nxb. Trẻ 2000
- Đại việt sử ký toàn thư. Bản dịch của Viện sử học (bản Chính Hòa 1697).
- Thư pháp là gì. Nxb. Văn nghệ, 2007.
- Vân đài loại . Nxb. Sài Gòn, 1973.
- Kể chuyện văn hoá truyền thống Trung Quốc. Nxb. Thế giới 2003.
- Tự điển phổ thông nghành nghề truyền thống. Nxb. ĐHQG 2000
- Làng cổ truyền Việt nam. Nxb. Thanh niên 2004
- Làng Việt nam nổi tiếng. Nxb. Thanh niên 2005
- Xưa & Nay số 283 tháng 5-2007.
- Di sản thủ công mỹ nghệ Việt . Nxb. Thanh niên 2000.
- Ngược đường trường thi Nxb. Bốn phương Sài gòn 1957
- Báo chí Việt nam từ khởi thuỷ đến 1945. Nxb. TP HCM 2000
- Nữ lưu đất Việt. Nxb. Đà Nẵng 2006
- Hồ hoàn Kiếm-Đền Ngọc sơn. Nxb. Trẻ 2003
- Vũ trung tùy bút. Nxb. Trẻ 2000
- Đại việt sử ký toàn thư. Bản dịch của Viện sử học (bản Chính Hòa 1697).
Sưu tầm
Phan Quốc Tuấn @ 08:00 02/02/2011
Số lượt xem: 2628
Số lượt thích:
0 người
- Tích Đức Tài tất Thành Đạt (23/02/10)
- Thư pháp Xuân (13/02/10)
- MỘNG (08/01/10)
- Ở MỘT NƠI...? (19/12/09)
- TRĂNG NON (05/12/09)

Các ý kiến mới nhất