Thành viên trực tuyến

3 khách và 0 thành viên

Bài dạy Mĩ Thuật

Tài nguyên dạy học

Hỗ trợ trực tuyến

  • (Phan Quốc Tuấn)

Bách khoa toàn thư

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang web chúng tôi xây dựng như thế này có được không?
Đẹp
Bình thường
Đơn điệu
Ý kiến khác

Việt Hán Nôm 越漢喃

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    Thu_quyen_ru.swf Down_on_the_farm__Bai_hat_thieu_nhi_tieng_Anh.swf Truyen_cay_tre_tram_dot41.swf Than_sat5.swf Su_tich_dua_hau3.swf Qua_tao15.swf Ngay_va_dem14.swf Ke_chuyen_Qua_bau_tien1.swf Hoa_mao_ga13.swf Gau_con_chia_qua12.swf Cu_cai_trang11.swf Co_be_quang_khan_do10.swf Chu_vit_xam9.swf Cao_tho_va_ga_trong7.swf Bac_gau6.swf Mauchuvietbangchuhoadung.png EmoiHN_PHO.swf Thiep_chuc_tet_tang_thay_Kieu.swf Thu_sau__XUAN_CA.swf

    TIN TỨC

    Tra cứu

    Diễn Đàn QA 1

    Tàng thư

    Facebook

    Gốc > Chuyện chữ nghĩa >

    CÂU ĐỐI HOÀNH PHI

    A. Câu đối:

    I. Định nghĩa:


    Câu đối được liệt vào một thể loại mang tính biền ngẫu, dùng thể thức đối đôi mà biểu hiện ý nghĩa, tư tưởng. Chữ 對 ở đây có ý nghĩa đối lập, thành đôi.

    II. Danh hiệu:

    Câu đối được người Trung Quốc gọi là Đối liên (對聯), dùng để chỉ một dạng sơ khởi của nó là đào phù tức bùa gỗ đào(桃符). Còn được người xưa gọi là Doanh thiếp, Doanh liên.

    Dữ liệu: (Theo WIKIPEDIA) "Đối liên có lịch sử ra đời cách đây khoảng 3000 năm, nhưng theo Tống sử Thục thế gia (宋史蜀世家), câu đối đầu tiên được ghi lại do chính chúa nhà Hậu Thục (934-965) là Mạnh Sưởng viết trên tấm gỗ đào vào năm 959.

    Nguyên bản:

    新年納餘慶
    嘉節號長春 

    Phiên âm:

    Tân niên nạp dư khánh
    Gia tiết hiệu trường xuân 

    Dịch thơ:

    Năm mới thừa chuyện vui
    Tiết đẹp xuân còn mãi 



    III. Các loại câu đối:

    Xuân liên (春聯): Câu đối xuân, chuyên dùng vào dịp Tết, gắn ở cửa.

    Doanh liên (楹聯): Câu đối treo ở cột trụ, dùng trong nhà, cơ quan, cung điện của vua và những nơi cổ kính.

    Hạ liên (賀聯): Câu đối chúc mừng, thường được dùng để chúc thọ, chúc sinh nhật, hôn giá, thăng quan tiến chức, có con, khai nghiệp v.v.

    Vãn liên (挽聯): Câu đối than vãn, dùng trong lúc ai điệu tử vong.

    Tặng liên (贈聯): Dùng để tán thán, đề cao hoặc khuyến khích người khác.

    Trung đường liên (中堂聯): Câu đối dùng để treo ở những khách đường lớn, chỗ nhiều người lưu ý, và được phối hợp với bút hoạch (thư pháp).

    Còn có một cách phân loại khác theo đặc điểm nghệ thuật:

    Điệp tự liên (疊字聯): Một chữ xuất hiện liên tục.

    Phức tự liên (複字聯): Hai vế có chữ giống nhau nhưng không xuất hiện một cách trùng phức liên tục.

    Đỉnh châm liên (頂針聯): Chữ nằm phần đuôi của câu đầu lại là chữ đầu của câu sau.

    Khảm tự liên (嵌字聯): Bao gồm số, phương vị, tiết khí, niên hiệu, họ người, nhân danh, địa danh, vật danh (ví như tên thuốc) v.v.

    Xích (sách) tự liên (拆字聯): Mỗi hợp thể tự bên trong câu đối tách thành bao nhiêu chữ đơn thể, có người phân ra tinh tế hơn nữa là mở chữ ra (xích tự 拆字), hợp chữ lại (hợp tự 合字), tách chữ ra (tích tự 析字) v.v.

    Âm vận liên (音韻聯): Bao gồm đồng âm dị tự, đồng tự dị âm cùng với điệp vận.

    Hài thú liên (諧趣聯): Hàm dung ý nghĩa khôi hài, ẩn kín.

    Vô tình đối (無情對): Ý nghĩa trên dưới không tương quan một mảy may nào, chỉ chỉnh những chữ, từ. Phần lớn Vô tình đối này ít thấy ý vị, hoàn toàn có thể quy nhập vào Hài thú liên bên trên.

    Hồi văn liên (回文聯): Đọc xuôi (thuận độc 順讀) hay đọc ngược (đảo độc 倒讀) ý tứ hoàn toàn như nhau.

    Những nguyên tắc của câu đối

    Khi viết câu đối, nếu chọn được câu chữ tuân theo nguyên tắc sau thì đôi câu đối được gọi là chỉnh đối hay đối cân.

    Đối ý và đối chữ

    Đối ý: hai ý đối phải cân nhau mà đặt thành 2 câu sóng nhau.

    Đối chữ: phải xét 2 phương diện thanh và loại.

    - Về thanh: thanh bằng đối với thanh trắc và ngược lại.

    - Về loại: thực tự (hay chữ nặng như: trời, đất, cây...) phải đối với thực tự; hư tự (chữ nhẹ như: thì, mà, vậy, ru...) phải đối với hư tự; danh từ phải đối với danh từ, động từ phải đối với động từ; nếu vế đối này có đặt chữ Nho thì vế kia cũng phải đặt chữ Nho...

    Vế câu đối

    Một đôi câu đối gồm hai câu đi song nhau, mỗi câu là một vế. Nếu câu ấy từ một người sáng tác gọi là vế trên và vế dưới. Nếu một người nghĩ ra một vế để người khác làm vế kia thì gọi là vế ra và vế đối.

    Khi một câu đối do một người làm ra cả hai vế, thì chữ cuối, vế trên, câu bên phải (khi treo) là thanh trắc; còn chữ cuối, vế dưới, câu bên trái là thanh bằng.


    Số chữ và các thể câu đối

    Số chữ trong câu đối không nhất định, theo số chữ và cách đặt câu có thể chia câu đối ra làm các thể sau:

    Câu tiểu đối: là những câu 4 chữ trở xuống.

    Câu đối thơ: là những câu làm theo lối đặt câu của thể thơ ngũ ngôn hoặc thất ngôn.

    Câu đối phú: là những câu làm theo các lối đặt câu của thể phú, gồm có:

    - Lối câu song quan: là những câu 6 đến 9 chữ, đặt thành một đoạn liền

    - Lối câu cách cú: là những câu mà mỗi vế chia làm 2 đoạn, một đoạn ngắn, một đoạn dài

    - Lối câu gối hạc hay hạc tất: là những câu mỗi vế có 3 đoạn trở lên.

    Luật bằng trắc

    Câu tiểu đối:

    - Vế phải: trắc-trắc-trắc

    - Vế trái: bằng-bằng-bằng

    Câu đối thơ: phải theo đúng luật bằng trắc của hai câu thực và câu luận trong lối thơ ngũ ngôn hoặc thất ngôn.

    Câu đối phú: Chữ cuối mỗi vế và chữ cuối mỗi đoạn phải bằng đối với trắc hoặc trắc đối với bằng. Khi mỗi vế đối có từ 2 đoạn trở lên thì nếu chữ cuối vế là trắc, các chữ cuối các đoạn trên phải là bằng và ngược lại. Nếu đoạn đầu hoặc đoạn dưới có đúng 7 chữ thì đoạn ấy thường theo luật thơ thất ngôn.

    B. Hoành phi:


    I. Định nghĩa:
      Là những tấm biển gỗ có hình thức trình bày theo chiều ngang treo trên cao bên ngoài các gian thờ tại đình chùa, từ đường... Thường ở trên đó khắc từ 03 đến 04 chữ đại tự.

    II. Danh hiệu: Từ HOÀNH PHI nguyên nghĩa là bảng nằm ngang với HOÀNH là ngang, PHI là phô bày.

    III. Nội dung: Thường thể hiện lòng tôn kính với tổ tông, bề trên, thần thánh.v.v...với các câu phổ thông như:

    Dữ Nhật Nguyệt: Mãi sáng với Mặt Trăng, Mặt Trời.
    Hộ Quốc Tí Dân: Bảo vệ đất nước, che chở nhân dân.
    Tích thụ kim hoa: Cây xưa nở hoa nay.v.v...

    Được treo ở những nơi tôn nghiêm, hoành phi vừa mang tính chất nghi lễ, vừa có giá trị về nghệ thuật. Những hoành phi cổ thực sự là di sản quý báu của cha ông.

     
     
     
     
     
     
     
     
    Một câu đối cổng hay:


    假作真時真亦假,
    無為有處有還無.


    GIẢ TÁC CHÂN THỜI, CHÂN DIỆC GIẢ;
    VÔ VI HỮU XỨ, HỮU HOÀN VÔ .

    Nghĩa:

    Giả nghĩ thành chân, chân cũng giả,
    Trong không có có, có lại không.
     
     

    (Nguồn tư liệu: Tài liệu văn hoá Trung Quốc và Hán Nôm, WIKIPEDIA)

     
     

    Nhắn tin cho tác giả
    Phan Quốc Tuấn @ 20:06 20/04/2011
    Số lượt xem: 4983
    Số lượt thích: 1 người (Bùi bách việt)
     
    Gửi ý kiến

    Thử code


    BẢNG THỬ CODE