THỜI GIAN

Thành viên trực tuyến

1 khách và 0 thành viên

Bài dạy Mĩ Thuật

THƯ PHÁP VIỆT

Tài nguyên dạy học

Hỗ trợ trực tuyến

  • (Phan Quốc Tuấn)

Trường Quảng An 1

Bách khoa toàn thư

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang web chúng tôi xây dựng như thế này có được không?
Đẹp
Bình thường
Đơn điệu
Ý kiến khác

SÁCH ĐÈN

CLB Violet Huế

Việt Hán Nôm 越漢喃

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    Thu_quyen_ru.swf Down_on_the_farm__Bai_hat_thieu_nhi_tieng_Anh.swf Truyen_cay_tre_tram_dot41.swf Than_sat5.swf Su_tich_dua_hau3.swf Qua_tao15.swf Ngay_va_dem14.swf Ke_chuyen_Qua_bau_tien1.swf Hoa_mao_ga13.swf Gau_con_chia_qua12.swf Cu_cai_trang11.swf Co_be_quang_khan_do10.swf Chu_vit_xam9.swf Cao_tho_va_ga_trong7.swf Bac_gau6.swf Mauchuvietbangchuhoadung.png EmoiHN_PHO.swf Thiep_chuc_tet_tang_thay_Kieu.swf Thu_sau__XUAN_CA.swf Chucmungnammoi2013_ngayxuanlongphuongxumvay.swf

    TIN TỨC

    Bảng mã màu

    Tra cứu

    Diễn Đàn QA 1

    Tàng thư

    Facebook

    Các thay đổi của trang Web:
    Bài viết xem nhiều nhất:
    Chia sẻ kinh nghiệm:
    Tài liệu học Hán Nôm:
    • Minh Tâm Bửu Giám Của GS Lê Văn Đặng tải Tại đây
    • Từ Điển Chữ Nôm của Vũ Văn Kính tải Tại đây
    • Tăng Quảng Hiền Văn tải Tại đây
    • Từ điển Hán Việt Thiều Chửu bản FDF tải Tại đây
    • Nếu máy tính không hiển thị chữ hán hãy tải và cài đặt 2 font MS Song và Sim Sun Tại đây

    Gốc > Ôn cố tri tân 溫故知新 >

    Thê tiến vong phu văn - một bài tế văn mang đậm tinh thần Phật giáo

    Văn tế vốn là một thể loại chức năng dùng để cáo tế trời đất, thần thánh, mùa màng… (còn gọi là chúc văn). Về sau, văn tế trở thành thể loại đặc biệt dùng để ai điếu người chết, qua đó bày tỏ nỗi đau đớn, niềm tiếc thương đối với người đã chết. Đồng thời, qua bài văn tế, người viết còn trực tiếp hoặc gián tiếp nói lên quan niệm của mình về thế sự nhân sinh. Văn tế Hán Nôm thuộc phạm trù trung đại nên những quan niệm ấy không nằm ngoài triết lý Nho Phật Đạo, hơn nữa còn chịu ảnh hưởng rất sâu sắc, nhất là quan niệm về cái chết, và được thể hiện rõ ràng bằng những từ ngữ, điển cố… trong kinh điển, sách vở Nho Phật Đạo. Có thể thấy dày đặc điển cố Nho giáo trong Tế Vũ tướng công văn, Tế tôn sư Tả thị lang văn…; điển cố Phật giáo trong Chiêu hồn văn, Thê tiến vong phu văn…; điển cố Đạo giáo mặc dù ít hơn nhưng thường xuất hiện trong nhiều bài, kể cả những bài mang tư tưởng chủ đạo là Nho giáo hay Phật giáo. Giống như trong nhiều thể loại văn học khác thời trung đại, Tam giáo cùng song hành và chi phối ảnh hưởng trong văn tế Hán Nôm.

     

    Nói về ảnh hưởng Phật giáo, chúng ta đều biết Văn chiêu hồn của Nguyễn Du hoàn toàn xuất phát từ tư tưởng Phật giáo, là bài văn tế chịu ảnh hưởng Phật giáo sâu sắc nhất. Sau này có người nhận thấy nó được phóng tác từ một khoa nghi của Phật giáo, khoa cúng Du già, nhưng uyển chuyển hơn, gần gũi hơn, lay động lòng người hơn, bởi vì nó đã thực sự chuyển thành tình cảm của chính tác giả, không còn mang tính lễ nghi quy phạm. Bài n chiêu hồn thể hiện sâu sắc tinh thần nhân đạo của tác giả dành cho tất cả thập loại cô hồn, hay nói đúng hơn là cho tất cả mọi người. Chưa có bài văn tế nào vượt khỏi Văn chiêu hồn về mức độ ảnh hưởng Phật giáo, cũng như chưa có tác giả nào sánh được với Nguyễn Du về tình yêu thương đồng loại.

     

    Bài văn tế Thê tiến vong phu văn được giới thiệu dưới đây đương nhiên cũng không thể sánh với Văn chiêu hồn cả về nội dung, nghệ thuật và phạm vi thể hiện. Văn chiêu hồn được viết theo thể song thất lục bát đúng vần điệu, ngữ điệu du dương trầm bổng, giọng điệu nhờ đó cũng da diết bi thương; Thê tiến vong phu văn mặc dù viết theo thể phú nhưng không gieo đúng vần, thanh điệu bằng trắc không thống nhất (các âm tiết cuối là đức, quynh, tộc, huyết, liễu, cấu, tâm, thi…), làm cho ngữ điệu và giọng điệu kém phần tha thiết. Nếu như Văn chiêu hồn thể hiện tình thương rộng lớn của tác giả dành cho mọi người, mọi tầng lớp trong xã hội, thì Thê tiến vong phu văn chỉ thể hiện tình thương hạn hẹp của vợ dành cho chồng. Văn chiêu hồn thể hiện tình thương chân thật trước nỗi đau và sự mất mát của mọi kiếp người, Thê tiến vong phu văn chỉ thể hiện niềm tiếc thương của cá nhân khi mất đi người thân như mất đi một thứ quý giá của riêng mình… Tuy vậy Thê tiến vong phu văn vẫn xứng đáng đứng hàng thứ hai về mức độ ảnh hưởng Phật giáo trong văn tế Hán Nôm. Từ ngữ và điển cố Phật giáo xuất hiện ngay câu đầu tiên (bảo sát, phương tiện, siêu tế, từ bi) và trong hầu hết các câu còn lại. Những từ ngữ và điển cố ấy thể hiện đắc lực tư tưởng Phật giáo về vô thường, nghiệp báo, giải thoát… Có lẽ tác giả bài Thê tiến vong phu văn là một người theo Phật giáo, có như thế mới thông hiểu giáo lý nhà Phật và tin rằng “Tây phương hữu Phật viên quy, nguyện tẩy tam đồ chi lũy cấu” (Tây Phương có Phật hãy nương về, nguyện rửa Tam đồ bao cấu uế), “ngưỡng yêu dương lộ chi huyền thi” (ngửa trông dương liễu rưới cam lồ) và “Nhất phiệt từ hàngsiêu chướng hải, Tam thừa huệ cự chiếu hôn cù” (Một chiếc thuyền từ qua khổ hải; Tam thừa giáo điển chiếu mê đồ)… Chỉ có điều, so với tinh thần giải thoát rốt ráo “Ai ai lấy Phật làm lòng, tự nhiên siêu thoát khỏi trong luân hồi” của Văn chiêu hồn, thì Thê tiến vong phu văn mặc dù cũng biết “sắc thân tứ đại bổn lai không” (sắc thân tứ đại vốn là không) và “Bạt vong linh cửu thú chi trầm luân, kim thủ huề quy bỉ ngạn” (Quét sạch nỗi trầm luân cửu thú, tay vàng dìu dắt đến bờ kia), nhưng do chưa dứt được tình cảm luyến ái vợ chồng nên vẫn còn bị vướng mắc vào vòng luân hồi tục lụy “Giám trần niệm bách niên chi đế đính, ngọc hoàn vĩnh chứng tha sinh” (Chứng tri lời nguyện ước trăm năm, chỉ thắm kết giao trong hậu kiếp).

     

                Sau đây, chúng tôi xin giới thiệu (phiên âm, dịch nghĩa và chú thích) bài Thê tiến vong phu văn.

     

                Nguyên văn

     

    妻荐亡夫文

     

    伏以:

     

    巍巍寳刹,空洞開方便之門;寂寂痴誠,超濟伏慈悲之德。

     

    俯攄素悃,上叩玄扃。

     

    言念,臣:

     

    猥出女流,嬪于華族。

     

    巢鵲幾秋有分,柳堂青京兆之眉;池魚一旦非常,藳野碧萇弘之血。

     

    悲累鳥之歸魂已化;悵霜鸞之孤嘴難鳴。

     

    三十六年之幻影何歸,渺忽春霄蝴蝶夢;四十八願之塵根未斷,淒凉月夜杜鵑聲。

     

    色身四大本來空;香火三生何日了。

     

    南海無天可問,誰伸九壤之冤沉;西方有佛爰皈,願洗三途之累垢。

     

    輝煌丈相,齋白寸心。

     

    閻浮一辨有情香,復啟蘭盂之法會;凈土三身無漏菓,仰邀楊露之玄施。

     

    伏願:

     

    智月澄臨,祥雲遍覆。

     

    一閥慈航超障海;三乘慧炬照昏衢。

     

    拔亡灵九趣之沉淪,金手擕歸彼岸;鍳塵念百年之締訂;玉環永証他生。

     

    肸蠁若臨,顯幽同慶。

     

    Phiên âm

     

    THÊ TIẾN VONG PHU VĂN

     

    Phục dĩ:

     

    Nguy nguy bảo sát, không đồng khai phương tiện chi môn(1); Tịch tịch si thành, siêu tế phục từ bi chi đức.

     

    Phủ sư tố khổn, thượng khấu huyền quynh.

     

    Ngôn niệm, thần:

     

    Ổi xuất nữ lưu, tần vu hoa tộc.

     

    Sào thước kỷ thu hữu phận, liễu đường thanh Kinh triệu chi mi(2); Trì ngư nhất đán phi thường, cảo dã bích Trành Hoằng chi huyết(3).

     

    Bi lụy điểu chi quy hồn dĩ hóa; Trướng sương loan chi cô chủy nan minh.

     

    Tam thập lục niên chi ảo ảnh hà quy, miểu hốt xuân tiêu hồ điệp mộng; Tứ thập bát nguyện chi trần căn vị đoạn(4), thê lương nguyệt dạ đỗ quyên thanh.

     

    Sắc thân tứ đại(5) bổn lai không; Hương hỏa tam sinh(6) hà nhật liễu.

     

    Nam Hải vô thiên khả vấn, thùy thân cửu nhưỡng(7) chi oan trầm; Tây Phương hữu Phật viên quy, nguyện tẩy tam đồ(8) chi lũy cấu.

     

    Huy hoàng trượng tướng, trai bạch thốn tâm.

     

    Diêm Phù nhất biện hữu tình hương, phục khải lan vu chi pháp hội(9); Tịnh Độ tam thân vô lậu quả, ngưỡng yêu dương lộ chi huyền thi(10).

     

    Phục nguyện:

     

    Trí nguyệt trừng lâm, tường vân biến phú.

     

    Nhất phiệt từ hàng(11) siêu chướng hải, Tam thừa(12) huệ cự chiếu hôn cù.

     

    Bạt vong linh cửu thú chi trầm luân, kim thủ huề quy bỉ ngạn(13); Giám trần niệm bách niên chi đế đính, ngọc hoàn vĩnh chứng tha sinh.

     

    Hật hưởng nhược lâm, hiển u đồng khánh!

     

    Chú thích

     

    (1) Sát: dịch âm tiếng Phạn, đầy đủ là sắt sát, nghĩa là đất, ruộng; bảo sát là đất Phật. Nhân đó chữ sát về sau dùng chỉ chùa tháp thờ Phật; Phương tiện: tùy theo hoàn cảnh mà khéo lấy việc lợi ích chỉ dẫn cho người; (2) Sào thước: cũng như thước sào. Kinh Thi có câu Duy thước hữu sào, duy cưu cư chi (chim thước có ổ, chim cưu đến ở), chim thước khéo làm ổ, chim cưu vụng về thường ở vào ổ chim thước làm xong. Cũng như việc chư hầu chịu sự giáo hóa của Văn vương đều chính tâm tu thân để tề gia, còn con gái của chư hầu cũng chịu sự giáo hóa của Hậu phi, đều có đức hạnh thuần nhất. Cho nên khi nghe việc gả cho chư hầu, người nhà khen tặng rằng: “Chim thước có ổ thì chim cưu đến ở.” Chỉ đức hạnh của bà Hậu phi nói riêng và người phụ nữ nói chung; Kinh triệu: tức Kinh triệu doãn, chức quan đứng đầu ở kinh đô; Liễu mi: đôi mi người đẹp nhỏ dài như lá liễu; (3) Trì ngư: Hoàn Tư mã nước Tống có viên ngọc quý, bị tội phải trốn sang nước khác. Vua sai người tới hỏi viên ngọc để đâu, Hoàn Tư mã trả lời: “Ném nó xuống ao rồi.” Nhà vua cho tát cạn nước ao tìm ngọc, ngọc tìm không được mà cá dưới ao chết hết. Về sau dùng trì ngư chỉ vô cớ mắc họa; Trành Hoằng: theo Thập di ký, Chu Linh Vương năm 23 xây đài Côn Chiêu. Trành Hoằng là người có thể chiêu vời được những điều thần dị. Vương lên đài, bỗng thấy 2 người cưỡi mây đi tới, 1 người có thể làm ra băng tuyết, 1 người có thể tạo ra hơi nóng. Lúc ấy Dung Thành Dư can rằng: “Đại vương lấy thiên hạ làm nhà mà lại tiêm nhiễm dị thuật, biến nóng thành lạnh, biến lạnh thành nóng, lừa gạt trăm họ, đó là điều Văn, Võ, Chu Công không làm.” Vương không thân cận Trành Hoằng nữa. Lúc khác, phương xa có người dâng gương đá Ngọc nhân, đá có màu trắng như tuyết, gương có trục hình người bằng ngọc tự chuyển động được. Trành Hoằng nói riêng với vương rằng: “Đó là do thánh đức vời tới.” Vương cho đó là lời siểm nịnh nên giết Trành Hoằng, máu chảy đong cứng thành ngọc bích; (4) Tứ thập bát nguyện: bốn mươi tám lời nguyện của Phật A-di-đà (khi ngài còn là Tỳ kheo Pháp Tạng trong nhân địa) lập ở trước Phật Thế Tự Tại vương; Trần căn: tất cả những sự, những pháp không trong sạch trong thế gian (các trần: sắc thanh hương vị xúc pháp) có thể làm ô nhiễm chân tánh của con người thông qua các căn (nhãn nhĩ tỉ thiệt thân ý); (5) Tứ đại: đất, nước, gió, lửa. Bốn thứ này hiện diện khắp nơi nên gọi là tứ đại. Tất cả loài hữu tình trên thế gian đều do bốn đại này tạo thành. Tóc, răng, lông, móng, da, thịt, gân, xương… đều có tánh cứng, thuộc địa đại; nước bọt, nước mắt, đờm, nước tiểu, máu…đều có tánh ướt, thuộc thủy đại; Độ nóng, hơi ấm có tánh ấm, thuộc hỏa đại; Thở ra thở vào có tánh lưu động, thuộc phong đại; (6) Tam sinh: ba đời quá khứ, hiện tại, vị lai sanh chuyển không ngừng; (7) Cửu nhưỡng: sâu và xa như xuống 9 tầng đất lạnh; (8) Tam đồ: ba đường ác: 1. Huyết đồ: đường súc sanh, vì súc sanh là loài thường bị giết hại, vả lại còn ăn thịt lẫn nhau; 2. Đao đồ: đường ngạ quỷ, vì ngạ quỷ là loài luôn bị đói khát và bị đao kiếm, gậy gộc bức bách; 3. Hỏa đồ: đường địa ngục, vì đị ngục là chỗ luôn bị lạnh cóng hoặc lửa dữ thiêu đốt; (9) Diêm phù: tức Diêm phù đề, Trung Hoa dịch là Thiệm bộ châu, là thế giới Ta bà mà chúng sanh đang nương ở hiện nay; Lan vu: viết đảo vị trí của vu lan, nghĩa là rất khổ. Kinh Vu lan bồn: “Đệ tử Phật tu đạo hiếu thuận, mỗi niệm đều phải nhớ cha mẹ hiện tiền cho đến cha mẹ trong bảy đời quá khứ, mỗi năm ngày rằm tháng bảy làm pháp hội Vu lan, cúng dường Phật và Tăng chúng để báo hiếu ơn sinh dưỡng của cha mẹ.” Ở đây ý nói làm pháp hội cầu siêu cho chồng; (10) Tịnh Độ: là cõi hoàn toàn thanh tịnh, nơi ngự của chư Phật. Mỗi vị Phật trong vô lượng vô biên chư Phật đều có một Tịnh Độ, như Tây phương Cực Lạc thế giới là Tịnh Độ của Phật A-di-đà. Về sau kinh điển Đại thừa cũng dùng Tịnh Độ để chỉ Cực Lạc; Tam thân: 1. Pháp thân, chân tánh thường trụ bất diệt mà mọi người đều đầy đủ, chúng sanh vì mê muội nên không hiển hiện được, chỉ có Phật là bậc đã giác ngộ và chứng đắc thân này; 2. Báo thân, thân do công đức trí huệ của Phật tạo thành; 3. Ứng thân, thân mà Phật tùy theo căn cơ chúng sanh mà ứn hiện; Vô lậu quả: đạo quả thanh tịnh không có phiền não, như cảnh Niết bàn của Diệt đế trong Tứ đế, A la hán trong Thanh văn thừa, Bích chi Phật trong Duyên giác thừa; Dương lộ: giọt nước cam lồ vẩy ra từ nhành dương liễu trên tay Quán Thế Âm Bồ tát có thể tẩy trừ cấu uế và phiền não của chúng sanh; (11) Chướng hải: biển phiền não. Phiền não có thể làm chướng ngại thánh đạo nên gọi là chướng. Thế gian có vô lượng vô biên phiền não nên gọi là chướng hải; (12) Tam thừa: ba cỗ xe dùng để chuyên chở, tức là ba khoa giáo, mỗi khoa giáo có thể đưa người tu học Phật đến Niết bàn, cõi thanh tịnh; (13) Cửu thú: những thú vui ở cõi đời lôi kéo con người khiến gây tạo nhiều nghiệp chướng; Bỉ ngạn: bờ bên kia, tức bờ giải thoát, người tu hành chứng quả nhập Niết bàn.

     

    Dịch nghĩa

     

    VĂN VỢ TẾ CHỒNG ĐÃ MẤT

     

    Phục dĩ:

     

    Chùa thâm u cao ngất, phương tiện tùy mở chốn huyền không; Lòng thành kính trang nghiêm, từ bi rộng cứu người nhân đức.

     

    Cúi đầu nghĩ tấm lòng son sắc; Ngẩng mắt trông cánh cửa nhiệm màu.

     

    Nỗi niềm bày tỏ, thiếp đây:

     

    Hèn mọn phận nữ lưu, gả về nơi cao thượng.

     

    Thước xây tổ mấy thu an phận, mày liễu xanh Kinh triệu lang quân; Cá trong ao một thoáng vô thường, Trành Hoằng máu nhuộm đầy bãi cỏ.

     

    Thương thay cánh chim mỏi đã hồn về hóa cảnh; Xót nhẽ cành loan sương đành đơn độc khôn kêu.

     

    Ba mươi sáu năm, đời ảo ảnh về đâu, bỗng chốc đêm xuân nồng giấc điệp; Bốn mươi tám nguyện, bụi trần căn chưa đoạn, thê lương trăng sáng tiếng quyên than.

     

    Sắc thân tứ đại vốn là không; Hương hỏa tam sinh ngày nao dứt. 

    Nam Hải nào trời đâu khá hỏi, ai hay bày tỏ nỗi oan trầm; Tây Phương có Phật hãy nương về, nguyện rửa Tam đồ bao cấu uế.

     

    Huy hoàng thân phu tướng; Tinh sạch một tấc lòng.

     

    Cõi Diêm phù một đóa hữu tình hương, nhân lễ Vu lan bày pháp hội; Miền Tịnh Độ ba thân vô lậu quả, ngửa trông dương liễu rưới cam lồ.

     

    Phục nguyện:

     

    Trăng trí huệ tuôn đầy ánh sáng; Áng mây lành phủ khắp muôn nơi.

     

    Một chiếc thuyền từ qua khổ hải; Tam thừa giáo điển chiếu mê đồ.

     

    Quét sạch nỗi trầm luân cửu thú, tay vàng dìu dắt đến bờ kia; Chứng tri lời nguyện ước trăm năm, chỉ thắm kết giao trong hậu kiếp.

     

    Đều đến chung vui, âm dương cùng hưởng!

     

     

     

    Tóm tắt

     

                Văn tế Hán Nôm là một thể tài thuộc phạm trù trung đại nên trong đó xuất hiện rất nhiều từ ngữ, điển cố lấy từ kinh điển, sách vở Tam giáo. Có thể thấy dày đặc từ ngữ, điển cố Nho giáo trong Tế Vũ tướng công văn, Tế tôn sư Tả thị lang văn…; Phật giáo trong Chiêu hồn văn, Thê tiến vong phu văn…; từ ngữ, điển cố Đạo giáo mặc dù ít hơn nhưng thường xuất hiện trong nhiều bài, kể cả những bài mang tư tưởng chủ đạo là Nho giáo hay Phật giáo. Riêng về ảnh hưởng Phật giáo, có thể nói Thê tiến vong phu văn chỉ đứng sau Văn chiêu hồn nổi tiếng của Nguyễn Du. Trong bài viết ngắn này chúng tôi muốn giới thiệu Thê tiến vong phu văn với những độc giả quan tâm thể tài này.

     

    ABSTRACT

     

    THÊ TIẾN VONG PHU VĂN (SPEECH  THAT THE WIFE SACRIFICE HER DEAD HUSBAND) – THE FUNERAL ORATION FILLING WITH BUDDHIST SPIRIT

     

    The Sino – Nom funeral oration is the medieval literary style including words and literary allusions being origin classics of  Three Traditional Religions (Tam giao). There are Confucianism words and terms in Tế Vũ tướng công văn, Tế tôn sư Tả thị lang văn …, Buddhist words and terms in Chiêu hồn văn, Thê tiến vong phu văn…, Taoism words and terms, although appearing less than, still being able to find out in many works which even contain elements of Confucianism and Buddhist. On influence of Buddhist, Thê tiến vong phu văn can be seen the second after the famous Văn chiêu hồn by Nguyen Du. This article introduced Thê tiến vong phu văn to audiences mentioning to the style.

     

    ThS. Nguyễn Đông Triều

     
     

    Nhắn tin cho tác giả
    Phan Quốc Tuấn @ 19:32 17/09/2012
    Số lượt xem: 1362
    Số lượt thích: 0 người
    Avatar

    Thê tiến vong phu văn - một bài tế văn mang đậm tinh thần Phật giáo

     
    Gửi ý kiến

    you tobe

    Thử code


    BẢNG THỬ CODE