THỜI GIAN

Thành viên trực tuyến

0 khách và 0 thành viên

Bài dạy Mĩ Thuật

THƯ PHÁP VIỆT

Tài nguyên dạy học

Hỗ trợ trực tuyến

  • (Phan Quốc Tuấn)

Trường Quảng An 1

Bách khoa toàn thư

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang web chúng tôi xây dựng như thế này có được không?
Đẹp
Bình thường
Đơn điệu
Ý kiến khác

SÁCH ĐÈN

CLB Violet Huế

Việt Hán Nôm 越漢喃

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    Thu_quyen_ru.swf Down_on_the_farm__Bai_hat_thieu_nhi_tieng_Anh.swf Truyen_cay_tre_tram_dot41.swf Than_sat5.swf Su_tich_dua_hau3.swf Qua_tao15.swf Ngay_va_dem14.swf Ke_chuyen_Qua_bau_tien1.swf Hoa_mao_ga13.swf Gau_con_chia_qua12.swf Cu_cai_trang11.swf Co_be_quang_khan_do10.swf Chu_vit_xam9.swf Cao_tho_va_ga_trong7.swf Bac_gau6.swf Mauchuvietbangchuhoadung.png EmoiHN_PHO.swf Thiep_chuc_tet_tang_thay_Kieu.swf Thu_sau__XUAN_CA.swf Chucmungnammoi2013_ngayxuanlongphuongxumvay.swf

    TIN TỨC

    Bảng mã màu

    Tra cứu

    Diễn Đàn QA 1

    Tàng thư

    Facebook

    Các thay đổi của trang Web:
    Bài viết xem nhiều nhất:
    Chia sẻ kinh nghiệm:
    Tài liệu học Hán Nôm:
    • Minh Tâm Bửu Giám Của GS Lê Văn Đặng tải Tại đây
    • Từ Điển Chữ Nôm của Vũ Văn Kính tải Tại đây
    • Tăng Quảng Hiền Văn tải Tại đây
    • Từ điển Hán Việt Thiều Chửu bản FDF tải Tại đây
    • Nếu máy tính không hiển thị chữ hán hãy tải và cài đặt 2 font MS Song và Sim Sun Tại đây

    Gốc > Ôn cố tri tân 溫故知新 >

    Vài nét về nghệ thuật văn tế Hán Nôm qua Dụ tế huân thần

    1. Dụ tế huân thần諭祭勲臣 (Lê Quý Đôn và Phạm Quý Thích tuyển soạn) là một tuyển tập văn tế chữ Hán viết vào nhiều thời điểm khác nhau. Đây là một bản sách viết tay bằng mực Tàu đen trên chất liệu giấy dó, gồm 194 trang, kích thước 31x22cm. Ở trang đầu, phía trên bên phải ghi 諭祭勳臣 Dụ tế huân thần, phía dưới bên phải ghi 立齋笵貴適 Lập Trai Phạm Quý Thích và 桂堂黎貴惇 Quế Đường Lê Quý Đôn.

     

               Tập sách gồm 19 bài văn tế, trong đó có bài ghi tên tác giả, cũng có bài khuyết danh hoặc có ghi tước vị nhưng chưa rõ tên tác giả. Phần lớn là những bài dụ tế các quan lại có công với triều đình và tướng sĩ trận vong; còn lại là văn tế một vị quan Thái thú Bắc triều, văn tế một vị Công chúa đời Trịnh, văn tế người thân. Ngoài ra, phần cuối sách còn có thêm một số bài văn phả khuyến, mừng thọ, mừng thi đổ; câu đối thù tặng, phúng viếng…

     

               2. Các bài văn tế trong Dụ tế huân thần hầu hết đều có kết cấu gồm bốn phần như thường thấy: Lung khởi, Thích thực, Ai vãn, Kết. Thể tài chủ yếu được sử dụng ở đây gồm hai loại:

     

               2.1. Văn xuôi: được làm khá tự do, thoải mái, không câu thúc về đối đăng niêm luật. Nhưng nhờ sử dụng tốt các từ ngữ luyến láy, trùng điệp cấu trúc, chuyển tải những nội dung tình cảm chân thật, gần gũi, sâu sắc, bi thiết nên vẫn tạo được sức biểu cảm, lay động cao. Như các bài Đại nội tử tế kỳ tỷ văn (Bài văn làm thay vợ tế chị vợ), Tế trưởng vong tỷ văn (Văn tế chị cả đã mất).

     

             2.2. Phú: được sử dụng nhiều nhất là phú theo cả hai lối: Phú lưu thủy và phú Đường luật, với những bài như Khâm sai dụ tế Luyện trung công văn (Bài văn quan Khâm sai theo chỉ dụ vua tế Luyện trung công), Khâm sai điếu Hưng Hóa đạo trận cố tướng sĩ văn (Bài văn quan Khâm sai theo chỉ dụ vua tế tướng sĩ trận vong ở đạo Hưng Hóa), Tế tôn sư Tả thị lang văn (Văn tế tôn sư Tả thị lang), Bảng trung hầu tế tâm hữu Thuần trung hầu văn (Bài văn Bảng trung hầu tế bạn thân Thuần trung hầu), Trịnh trưởng Công chúa thành phục văn (Văn tế lễ Thành phục trưởng Công chúa họ Trịnh-Phạm Quý Thích), Dụ tế thái thú Bắc Triều văn (Văn dụ tế Thái thú Bắc triều)…

     

                 3. Đặc sắc nhất về hình thức nghệ thuật là sử dụng câu cú một cách đa dạng, phong phú chuyển tải được nhiều giọng điệu: đau đớn thê lương, tiếc nuối nhớ nhung, bi tráng hào hùng, ưu tư tự sự, chân thành tha thiết…

     

                    3.1. Có những câu tự do không câu nệ âm luật và độ dài ngắn, nhưng da diết, thâm trầm xuất hiện nhiều trong những bài văn tế làm theo thể văn xuôi:

     

    “Bi tư nhân chi yểu, thương phụ mẫu chi tâm, cảm gia lương chi niệm, bất năng bất phủ ưng nhi đại đỗng dã. Phù phụ mẫu sinh hạ tử nữ, hữu gia thất thập hữu nhất nhân, độc ngô tỉ hoạn bệnh, nhi muội khổ bần. Ngô tỉ tại thời, cái thường viết: Bần bệnh giai nhân sở khổ. Nhiên ninh vi muội chi bần, bất ninh vi tỉ chi bệnh dã.”

     

    (Thương chị tôi yểu mệnh, làm cha mẹ đau lòng, khiến chồng chị nát tan trong dạ, em cũng không thể không xót xa kêu khóc. Ôi, cha mẹ sinh các con, mười một người đều đã thành gia thất, riêng chị bệnh hoạn, em lại khổ nghèo. Lúc còn sống, chị đã từng nói: “Nghèo bệnh đều là những thứ khổ của con người.” Nhưng thà em chịu khổ nghèo, chẳng muốn chị bệnh đau.)

     

    (Đại nội tử tế kỳ tỷ văn)

     

                Bên cạnh những đặc điểm nổi bật của văn tế viết theo các thể tài khác (phú, tán, lục bát, song thất lục bát…), văn tế văn xuôi cũng có ưu thế riêng. Do không câu thúc ở niêm luật, độ câu dài ngắn, văn tế văn xuôi không “quý phái”, cũng ít có những lúc “cao trào”, “mãnh liệt” như nhiều bài văn tế theo thể phú, rất thích hợp thể hiện những tình cảm bình dị, sâu lắng, nhẹ nhàng, dâng trào theo cảm xúc tự nhiên. Có lẽ vì vậy, trong khi văn tế theo thể phú thường được viết để tế các bậc công thần, quan lại, tướng sĩ hoặc những người có vai vế, thì văn tế văn xuôi lại thường dùng để tế những người bình dân, ngang hàng như anh, chị của người tế. Như vậy, đối tượng được tế có vai trò góp phần chi phối thể tài trong Dụ tế huân thần.

     

                3.2. Câu bốn chữ hoặc tám chữ, câu song quan, cách cú, gối hạc thường đi theo từng cặp được vận dụng nhuần nhuyễn, đa dạng trong các bài theo thể phú, trong đó, tần suất cao nhất là kiểu câu cách cú. Điều này giúp tạo nên sự cộng hưởng về âm điệu: lúc dồn dập thống thiết, lúc chậm rãi tiếc nhớ, lúc mênh mang tư lự… Những kết cấu ấy thường mang nội dung đối nhau, vần luật có khi chặt chẽ, có khi phóng khoáng. Xin trích dẫn vài câu tiêu biểu:

    - Câu hợp vần:

    Huân trì(1) kí quán cửu nhi kính chi.; Cừu mã(2) dữ đồng tệ vô hám hĩ.

    Đãn vị bách niên huân nghiệp, phương danh tề thượng ư cảnh chung; Hà kì nhất dạ phong sương, lệnh hữu độc thuyên ư cảo lí.

    (Kết bạn từ lâu hòa kính huân trì; Cừu mã dùng chung nát hư chẳng tiếc.

    Đã gọi trăm năm công nghiệp, tiếng thơm ghi khắc ở chuông vàng; Nào hay một tối phong sương, bạn chóng vùi thân nơi cách biệt.)

    (Bảng trung hầu tế tâm hữu Thuần trung hầu văn)

                - Câu không hợp vần:

                “Trí dũng tiêu ma ư khoáng nhật, anh hùng chi lệ mãn khâm; Tuyết lam bạo lộ ư kinh tuần, chiến sĩ chi thi khỏa cách.

    Hữu đãi tễ ư thỉ thạch chi hạ; Hữu hoành ly ư phong nhẫn chi giao.

    Cốt điền cự cảng chi lưu; hài tịch bình lâm chi mãng.

                (Trí dũng tiêu tan trong chốc lát, lệ anh hùng rơi đẫm nhung y; Tuyết sương dày dạn đã bao ngày, thây chiến sĩ quấn tròn da ngựa.

    Người đợi bỏ thân dưới làn tên đá; Kẻ gặp hiểm nghèo trước mũi kiếm đao.

    Xương cốt lấp đầy sông lớn; Thi hài chồng khắp rừng hoang.)

    (Khâm sai điếu Hưng Hóa đạo trận cố tướng sĩ văn)

                3.3. Ngoài ra, còn có thể điểm qua một số nghệ thuật đặc sắc sau:

     

    - Về mặt ngôn từ, hầu hết các bài văn tế theo thể phú trong Dụ tế huân thần đều sử dụng ngôn từ vô cùng hàm xúc, uyên bác, đặc biệt mượn nhiều điển cố trong thư tịch cổ Trung Quốc. Văn tế là thể loại thuộc phạm trù trung đại, lại liên quan đến quan niệm của con người về vấn đề sinh tử, nên ngôn từ và điển cố đều ảnh hưởng sâu sắc từ triết lý và sách vở Nho, Phật, Đạo. Có thể thấy dày đặc điển cố Nho giáo trong Tế Vũ tướng công văn, Tế tôn sư Tả thị lang văn…; điển cố Phật giáo trong Thê tiến vong phu văn; điển cố Đạo giáo mặc dù ít hơn nhưng thường xuất hiện trong nhiều bài, kể cả những bài mang tư tưởng chủ đạo là Nho giáo hay Phật giáo. Giống như nhiều thể loại văn học khác thời trung đại, Tam giáo cùng song hành và chi phối ảnh hưởng trong văn tế Hán Nôm.

     

    - Các biện pháp nghệ thuật khác như ẩn dụ, hoán dụ, ước lệ, tượng trưng… vô cùng phong phú, đặc sắc; Phương thức trùng điệp cũng được vận dụng với mức độ khá cao không chỉ về từ, ngữ mà cả câu và cấu trúc… đều đã góp phần tạo nên giá trị nghệ thuật cao cho từng tác phẩm.

     

                   4. Chúng tôi xin giới thiệu (phiên dịch, chú thích) ba bài văn tế tiêu biểu trong tập văn tế này để minh họa cho một số đặc điểm nghệ thuật đã trình bày trên, đồng thời cũng để giới thiệu thêm ba tác phẩm mới cho bộ phận văn tế Hán Nôm: Tế Vũ tướng công văn (Lê Quý Đôn soạn), Bảng trung hầu tế tâm hữu Thuần trung hầu văn, Tế tôn sư Tả thị lang văn.

    Bài 1. 祭武將公文(延河榜眼黎貴惇撰)

                嗚呼!樗陰暗淡,滿天風雨何仇;梓邑凄凉,竟夜禽猨若訴。長嗟我父之曷歸;浩嘆蒼天之莫籲。痛惟:地步高華,天資超悟。帳裏勵三冬之學,辛勤馬枕車囊;胸中搜二酉之藏,淹貫陸厨杜庫。八文成韻,蓺圃高超;千古馳名,詞林獨步。吐芳汗於秋棘,鵬摶北海之風;洒麗藻於詞塲,豹變南山之霧。桂枝早見騰芳,槐蔭預知必做。春圍射策,四海瞻榜上之龍;東閣掄才,群英讓文中之虎。陪政府而魚頭鯁概,子文之喜愠都忘;陟諫垣而鐵面風棱,長孺之招麾莫顧。窮通盡付於青蒼;忠愛只舒於悃素。鸞坡两入,演青綸而日贊淵猷;烏府重登,簪白筆而霜嚴憲度。多年中外丕揚,一節後先疎附。六籌戎陣,餘威杨柳之塲;五試民庸,遺愛甘棠之樹。剛腸標晚歲之長松,特操屹中流之砥柱。三榮完福,人稱陸地之神僊;九老英逰,时踵香山之步武。比皐重設於閒堂,晚景将安於逸趣。遠廣平於闕下,紫宸懷敢諫之英風;起司馬於洛中,蒼生望及辰之霖雨。暮年而可道具經綸,数月預聞政將調緌。每谓壽星長照,百年尚擬於龜齡;何期箕尾遽推,一枕忽迷於蝶羽。噫!雲鎻寒山,月沈遠浦。跼天蹐地罔旣凄怜;陸海癯山曷滕悲慕。一生之風栽節操,冰雪同情;千秋之事業勲名,縑緗不朽。精英雖已斂於山河,聞望尙昭垂於宇宙。悠悠景仰休風,瞿瞿愈增悲…。静惟頂踵,恨涓滴之未酬;遐望音容,慨羹墙之如覩。今則,灵鳴吿迁,行途暫駐。澗毛沼沚,聊將薄奠数盃; 地義天經,庶表昪倫万古。嗚呼痛哉!

    Phiên âm

    TẾ VŨ TƯỚNG CÔNG VĂN

    (Diên Hà Bảng nhãn Lê Quý Đôn soạn)

    Ô hô! Xư âm(3) ám đạm, mãn thiên phong vũ hà cừu; Tử ấpthê lương, cánh dạ cầm viên nhược tố.

    Trường ta ngã phủ chi hạt quy? Hạo thán thương thiên chi mạc dụ?

    Thống duy:

    Địa bộ cao hoa; Thiên tư siêu ngộ.

    Trướng lý lệ tam đông chi học, tân cần Mã chẩm Xa nang(4); Hung trung sưu nhị Dậu(5) chi tàng, yêm quán Lục trù Đỗ khố(6).

    Bát văn(7) thành vận, nghệ phố cao siêu; Thiên cổ trì danh, từ lâm độc bộ.

    Thổ phương hãn ư thu cức, bằng đoàn Bắc hải chi phong; Sái lệ tảo ư từ trường, báo biến Nam sơn chi vụ(8).

    Quế chi tảo kiến đằng phương; Hòe ấm dự tri tất tố.

    Xuân vi xạ sách, tứ hải chiêm bảng thượng chi long; Đông các luân tài, quần anh nhượng văn trung chi hổ.

    Bồi chính phủ nhi ngư đầu ngạnh khái, Tử Văn chi hỉ uẩn đô vong; Trắc gián viên nhi thiết diện phong lăng, Trường Nhụ chi chiêu huy mạc cố.

    Cùng thông tận phó ư thanh thương; Trung ái chỉ thư ư khổn tố.

    Loan pha(9) lưỡng nhập, diễn thanh luân(10) nhi nhật tán uyên du; Ô phủ(11) trùng đăng, trâm bạch bút nhi sương nghiêm hiến độ.

    Đa niên trung ngoại phi dương; Nhất tiết hậu tiên sơ phụ.

    Lục trù nhung trận, dư uy dương liễu chi trường; Ngũ thí dân dung, di ái cam đường(12) chi thụ.

    Cương trường biêu vãng tuế chi trường tùng; Đặc tháo ngật trung lưu chi để trụ.

    Tam vinh hoàn phúc, nhân xưng lục địa chi thần tiên; Cửu lão(13) anh du, thời chủng Hương Sơn chi bộ vũ.

    Bì cao trùng thiết ư nhàn đường; Vãn cảnh tương an ư dật thú.

    Viễn Quảng Bình ư khuyết hạ, tử thần hoài cảm gián chi anh phong; Khởi Tư Mã ư Lạc Trung, thương sinh vọng cập thời chi lâm vũ.

    Mộ niên nhi khả đạo cụ kinh luân; Sổ nguyệt dự văn chính tương điều lũ.

    Mỗi vị thọ tinh trường chiếu, bách niên thượng nghĩ ư quy linh; Hà kỳ Ky Vỹ(14) cự thôi, nhất chẩm hốt mê ư điệp vũ.

    Y! Vân tỏa hàn sơn, nguyệt trầm viễn phố.

    Cục thiên tích địa(15) võng kí thê linh; Lục hải cù sơn hạt thăng bi mộ.

    Nhất sinh chi phong tài tiết tháo, băng tuyết đồng tình; Thiên thu chi sự nghiệp huân danh, kiêm tương bất hủ.

    Tinh anh tuy dĩ liễm ư sơn hà; Văn vọng thượng chiêu thùy ư vũ trụ.

    Du du cảnh ngưỡng hưu phong; Cù cù dũ tăng bi trụ.

    Tĩnh tuy đỉnh chủng, hận quyên trích chi vị thù; Hà vọng âm dung, khái canh tường(16) chi như đổ.

    Kim tắc, linh minh cáo thiên, hành đồ tạm trú.

    Giản mao chiểu chỉ, liêu tướng bạc điện sổ bôi; Địa nghĩa thiên kinh, thứ biểu biện luân vạn cổ.

    Ô hô thống tai!

    Dịch nghĩa

    VĂN TẾ VŨ TƯỚNG CÔNG

    (Bảng nhãn Lê Quý Đôn ở Diên Hà soạn)

    Ôi! Bóng xư ảm đạm, mưa gió đầy trời oán trách ai? Quê cũ thê lương, chim vượn suốt đêm như muốn ngỏ. 

    Than dài tiền bối đã về đâu? Gào lớn trời xanh sao chẳng thấu?

    Nhớ Tướng công xưa:

    Thiên tính thông minh, thênh thang tiền lộ.

    Chăng màn ba đông gắng học, gian nan Mã chẩm Xa nang; Trong tâm Nhị Dậu cố tìm, thông suốt Lục trù Đỗ khố.

    Văn bát cổ thành vận, vườn tài nghệ cao siêu; Tiếng thơm dậy ngàn thu, rừng thơ văn độc bộ.

    Nhả ngọc châu nơi Hương, Hội, gió đông thỏa chí côn bằng; Tuôn giai cú chốn thi đàn, núi bắc rỡ màu hổ báo.

    Quế thơm sớm tỏa từ lâu; Bóng hòe dự tri ắt rõ.

    Vườn xuân cưỡi ngựa bắn tên, bốn biển xem rồng chiếm danh đầu; Đông các tuyển chọn anh tài, quần hùng phục tên đề bảng hổ.

    Giúp triều đình thì trung thành cương nghị, Tử Văn vui giận đều quên; Làm Gián quan luôn thiết diện vô tư, Trường Nhụ vẫy mời chẳng ngó.

    Vận cùng thông để mặc trời xanh; Niềm trung ái tràn đầy tạng phủ.

    Vườn loan hai lượt, diễn thanh luân soi sáng đạo uyên thâm; Ô phủ lại vào, dùng bạch bút để giữ nghiêm pháp độ.

    Nhiều năm khen ngợi khắp trong ngoài; Khí tiết xưa nay đều ngưỡng mộ.

    Sáu phép dùng binh, vang danh dương liễu thao trường; Năm cách trị dân, mến đức cam đường cổ thụ.

    Bóng tùng mùa đông vững chãi chí kiên trinh; Trụ núi giữa dòng nêu cao gương tiết tháo.

    Tam vinh vẹn phúc, người xưng thần thánh cõi đời; Cửu lão vân du, thường dạo Hương Sơn cảnh tú.

    Giảng kinh lại mở nơi nhàn đường; Cảnh muộn sẽ tìm về dật thú.

    Rời Quảng Bình đến cửa khuyết, chốn thâm cung mang khí khái gián quan; nhậm Tư mã ở Lạc Trung, thương sinh đợi cơn mưa vào vụ.

    Tuổi cuối đời tài lão luyện kinh luân; Trong mấy tháng phép trị dân ổn thỏa.

    Mỗi lúc thọ tinh chiếu sáng, nghĩ trăm năm tuổi hạc da mồi; Nào hay Ky Vỹ chóng bay, theo cánh bướm mải mê mộng ngủ.

    Ôi! Mây phủ hàn sơn, trăng chìm viễn phố.

    Khum trời rón đất, nỗi thê lương chẳng thể cạn lời; Biển rộng núi cao, tình luyến mộ khôn phương bày tỏ.

    Thanh cao một đời khí phách, băng tuyết đồng tình; Công danh sự nghiệp ngàn năm, văn chương bất hủ.

    Tinh anh tuy đã nhập với núi sông, tiếng tăm vẫn vang dài cùng vũ trụ.

    Xa xăm càng thiết thảm sầu; Vòi vọi ngưỡng trông đức độ.

    Lặng nhớ mọi điều chung thủy, hận ơn sâu chưa đền đáp tơ hào; Xa trông tiếng nói dáng đi, khi ăn ngủ cũng canh tường thấy rõ.

    Đến nay: Hồn thiêng giã từ, bến đời tạm đỗ.

    Lễ sơ vật mọn, tướng sĩ bày rượu nhạt vài chung; Địa nghĩa thiên kinh, hậu thế ngưỡng nhân luân vạn cổ.

    Ôi đau đớn thay!

    Bài 2. 榜忠侯祭心友純忠侯文

    立天曰陰陽之道,其往來固靡有常;在人惟朋友之倫,于哀感何能自已。噫!此良朋:心地寬和,資天弘毅。韜鈐學富,不孤將種雄風;騎射才全,寔得山西正氣。粵[耳+並]岐二之形;早重金分之義。年方總角,共從遊於技蓺之场;歲及峩弁,均入侍於宮廷之地。心有孚不膝而堅;情日密如醪之醉。遭時遇主,慶偶逢魚水良緣;出谷遷喬,咸歷掌干戈重寄。塤箎旣慣乆而敬之;裘馬與同敝無憾矣。但謂百年勳業,芳名齊上於景鍾;何期一夜風霜,令友獨遄於蒿里。噫!以此龍人,丁兹蛇歲。人生哀樂,悵逝水之東流;世事榮枯,殆浮雲之北去。已焉哉!天寔爲之;吁嗟矣!人將何其。第念合爲頭尾,如此一龍;静言相照腑肝,來思四紀。撫丹鷄之夙約未寒,乃白露之芳筳遽棄。將遠尋劉阮之逰,胡忍負金蘭之契?歌殘伐木,嗟求友之良難;天奪子竒,慨知音之有幾。情難與叙,叙愈傷懷;哀莫能言,言之出涕。江皐遠遣,曷勝[歹+並]露之悲; 菲禮具陳,式表生平之誼。嗚呼痛哉!

    Phiên âm

    BẢNG TRUNG HẦU TẾ TÂM HỮU THUẦN TRUNG HẦU VĂN

    Lập thiên viết âm dương chi đạo, kì vãng lai cố mị hữu thường; Tại nhân duy bằng hữu chi luân, vu ai cảm hà năng tự dĩ.

    Y ! Thử lương bằng:

    Tâm địa khoan hòa, tư thiên hoằng nghị.

    Thao kiềm học phú, bất cô tướng chủng hùng phong; Kỵ xạ tài toàn, thực đắc Sơn Tây chính khí.

    Việt sính kỳ nhị chi hình; Tảo trọng kim phân chi nghĩa.

    Niên phương tổng giác, cộng tùng du ư kỹ nghệ chi trường; Tuế cập nga biện, quân nhập thị ư cung đình chi địa.

    Tâm hữu phu bất tất nhi kiên; Tình nhật mật như lao chi túy.

    Tao thời ngộ chủ, khánh ngẫu phùng ngư thủy lương duyên; Xuất cốc thiên kiều(17), hàm lịch chưởng can qua trọng kí.

    Huân trì kí quán cửu nhi kính chi.; Cừu mã dữ đồng tệ vô hám hĩ.

    Đãn vị bách niên huân nghiệp, phương danh tề thượng ư cảnh chung; Hà kì nhất dạ phong sương, lệnh hữu độc thuyên ư cảo lí.

    Y! Dĩ thử long nhân, đinh tư xà tuế.

    Nhân sinh ai lạc, trướng thệ thủy chi đông lưu; Thế sự vinh khô, đãi phù vân chi bắc khứ.

    Dĩ yên tai, thiên thực vi chi; Hu ta hĩ, nhân tương hà ký.

    Đệ niệm hợp vi đầu vĩ, như thử nhất long; Tĩnh ngôn tương chiếu phủ can, lai tư tứ kỷ.

    Phủ đan kê chi túc ước vị hàn, nãi bạch lộ chi phương diên cự khí.

    Tương viễn tầm Lưu Nguyễn chi du, hồ nhẫn phụ kim lan chi khế?

    Ca tàn Phạt mộc(18), ta cầu hữu chi lương nan; Thiên đoạt Tử Kỳ, khái tri âm chi hữu kỷ.

    Tình nan dữ tự, tự dũ thương hoài; Ai mạc năng ngôn, ngôn chi xuất thế.

    Giang cao viễn khiển, hạt thăng … lộ chi bi; Phỉ lễ cụ trần, thứ biểu sinh bình chi nghị.

    Ô hô thống tai!

    Dịch nghĩa:

    BÀI VĂN BẢNG TRUNG HẦU TẾ TÂM HỮU THUẦN TRUNG HẦU

    Lập thiên là đạo âm dương, đến rồi đi vốn chẳng lâu bền; Ở đời có tình bằng hữu, lòng thương cảm nào đâu kể xiết.

    Chao ôi! Người bạn tốt này:

    Lòng dạ nhu hòa, tính tình cương trực.

    Tinh thông thao lược, không hổ danh dòng tướng anh hùng; Kỵ xạ song toàn, thật xứng danh Sơn Tây hào kiệt.

    Sớm trọng chữ tâm giao; Đó đây nào phân cách.

    Tuổi vừa tết tóc; đã theo nhau học nghệ chung trường; Đến lúc trưởng thành, lại cùng tới cung đình nhậm việc.

    Lòng tin yêu luôn chẳng đổi dời; Tình thân mật mãi nồng như rượu tiệc.

    Đã gặp thời cơ, được phò minh chủ, mừng tao phùng cá nước lương duyên; Ra khỏi hang tối, bay lên cây cao, tay nắm giữ binh quyền trọng trách.

    Kết bạn từ lâu hòa kính huân trì; Cừu mã dùng chung nát hư chẳng tiếc.

    Đã gọi trăm năm công nghiệp, tiếng thơm ghi khắc ở chuông vàng; Nào hay một tối phong sương, bạn chóng vùi thân nơi cách biệt.

    Ôi! Thân tướng là bậc long quy; Tuổi đời lại như rắn rết.

    Vui sầu nhân thế, buồn thay nước chảy về đông; Vinh nhục sự đời, ngán nỗi mây bay về bắc.

    Đã thế thôi, trời thực an bài; Ôi vậy rồi, người đành chịu thiệt.

    Nghĩ về sự tích xưa nay, như một rồng thiêng; Bốn giềng soi chiếu tâm can, những lời trinh bạch.

    Chưa quên lời hẹn lúc thu đông; Bạch lộ tiệc ngon cam bỏ cuộc.

    Cõi chu du Lưu Nguyễn xa tìm; Câu kết hợp kim lan sao bội ước!

    Hát xong bài Phạt mộc, trách than tìm bạn thật khó thay; Trời cướp mất Tử Kì, bùi ngùi tri âm đâu chẳng biết.

    Tình không thể nói, nói lại càng thương; Đau khó nên lời, lời tuôn nước mắt.

    Tạm bày lễ mọn, những mong tỏ nghĩa sinh bình; Khuất bóng linh xa, ôm ấp nỗi buồn man mác.

    Ôi đớn đau thay!

    Bài 3. 祭尊師左侍郎文

         仰惟尊師:天資純粹,聖學精微。危科早擢,正道自持。木鐸揚聲兮時雨之化;玉階進步兮鴻羽之義。規圓矩方,作津梁於後學;日光水潔,卓星斗於當時。及其門者大成小造,潤其教者魚躍鳶飛。善誘旣神於感發,來旬尢妙於撫綏。山西京北山南海陽,處處仰福星之遍照;太原高平宣光興化,在在霑惠澤之旁施。外庸旣著,內政方厘。張弛一循于中道,卷舒各適于時宜。年近七旬,謂懸車之可佇;時方八月,忽飆御之倐馳。嗚呼痛哉!難忱天道;莫測化機。命方期於北斗。身已騎於南箕。致澤素懷終焉抱負;經綸大手未見設施。嗚呼哀哉!泰山其頹兮,小子何仰?樑木其壞兮,小子何依?虎祲寂聞於玉響;鳣堂虚掛於彩衣。坐上春風,難再親陪之日;門前冬雪,覺無候立之期。嗚呼哀哉!泉臺永悶;[歹+並]露何稀。霧暗臨潮,愁看雲霎;煙迷蘇水,驚換靈輀。念昔時之來見兮,晏晏怡怡,衣冠相慶;撫今朝之相送兮,慇慇戚戚,涕泗交頣。嗚嘑哀哉!杏壇龍去;華表鶴歸。心有求兮弗獲;迹欲訪兮難追。回瞻東邑故居,有懷曷旣;遙盻姜亭新宅,無淚可揮。想陶淑之深仁兮,涓埃未報;仰作成之厚德兮,旦夕長思。潢水澗毛,寓寸情於哀感;天經地義,庶萬古之昭垂。嗚呼哀哉!

    Phiên âm

    TẾ TÔN SƯ TẢ THỊ LANG VĂN

    Ngưỡng duy tôn sư:

    Thiên tư thuần túy, thánh học tinh vi. Nguy khoa tảo trạc, chính đạo tự trì.

    Mộc đạc dương thanh hề thời vũ chi hóa; Ngọc giai tiến bộ hề hồng vũ(19) chi nghi.

    Quy viên củ phương, tác tân lương ư hậu học; Nhật quang thủy khiết, trác tinh đẩu ư đương thời.

    Cập kỳ môn giả đại thành tiểu tạo, Nhuận kỳ giáo giả ngư dược diên phi.

    Thiện dụ kí thần ư cảm phát; Lai tuần vưu diệu ư phủ tuy.

    Sơn Tây, Kinh Bắc, Sơn Nam, Hải Dương, xứ xứ ngưỡng phúc tinh chi biến chiếu; Thái Nguyên, Cao Bằng, Tuyên Quang, Hưng Hóa, tại tại triêm huệ trạch chi bàng thi.

    Ngoại dung kí trứ, nội chánh phương ly.

    Trương thỉ nhất tuần vu trung đạo; Quyển thư các thích vu thời nghi.

    Niên cận thất tuần, vị huyền xa(20) chi khả trữ; Thời phương bát nguyệt, hốt tiêu ngự chi thúc trì.

    Ô hô thống tai!

    Nan thầm thiên đạo; Mạc trắc hóa cơ.

    Mệnh phương kỳ ư Bắc đẩu, thân dĩ kỵ ư Nam ky.

    Trí trạch tố hoài chung yên bão phụ; Kinh luân đại thủ vị kiến thiết thi.

    Ô hô ai tai!

    Thái Sơn kì đồi hề tiểu tử hà ngưỡng? Lương mộc kì hoại hề tiểu tử hà y?

    Hổ tẩm tịch văn ư ngọc hưởng; Chiên đường(21) hư quải ư thái y.

    Tọa thượng xuân phong, nan tái thân bồi chi nhật; Môn tiền đông tuyết, giác vô hậu lập chi kỳ.

    Ô hô ai tai!

    Tuyền đài vĩnh muộn; Phỉ lộ hà hi.

    Vụ ám lâm hồ, sầu khan vân sáp; Yên mê Tô thủy, kinh vãn linh nhi(22).

    Niệm tích thời chi lai kiến hề, yến yến di di, y quan tương khánh; Phủ kim triêu chi tương tống hề, ân ân thích thích, thế tứ giao di.

    Ô hô ai tai !

    Hạnh đàn(23) long khứ; Hoa biểu(24) hạc quy.

    Tâm hữu cầu hề phất hoạch; Tích dục phỏng hề nan truy.

    Hồi chiêm đông ấp cố cư, hữu hoài hạt kí; Diêu hễ khương đình tân trạch, vô lệ khả huy.

    Tưởng đào thục chi thâm nhân hề, quyên ai vị báo; Ngưỡng tác thành chi hậu đức hề, đán tịch trường tư.

    Hoàng thuỷ giản mao, ngụ thốn tình ư ai cảm; Thiên kinh địa nghĩa, thứ vạn cổ chi chiêu thùy.

    Ô hô ai tai!

    Dịch nghĩa

    VĂN TẾ TÔN SƯ TẢ THỊ LANG

     

    Kính nghĩ tôn sư:

     

    Thiên tư thuần phác; Thánh học tinh vi.

     

    Khoa cao sớm đạt; Chánh đạo ai bì.

     

    Danh tiếng vang xa chừ, ơn giáo hóa như cơn mưa mùa hạ; Tới lui đĩnh đạc chừ, xem phong thái như hồng vũ dung nghi.

     

    Quy tắc tròn đầy, là mối giềng cho hậu học; Văn tài trác tuyệt, sánh tinh đẩu ở đương thời.

     

    Theo học với người, lớn nhỏ đều thành tựu; Nhuần đạo của người, chim cá thảy tung bay.

     

    Khéo khuyên dỗ đã tài tình cảm hóa; Giỏi trị dân càng thần diệu vỗ về.

     

    Sơn Tây, Kinh Bắc, Sơn Nam, Hải Dương ngưỡng phúc tinh soi khắp chốn; Thái Nguyên, Cao Bằng, Tuyên Quang, Hưng Hóa hưởng huệ trạch đến mọi nơi.

     

    Việc bên ngoài công lao sáng tỏ; Việc bên trong sau trước an bài.

     

    Lúc co giãn luôn trung dung đúng đạo; Khi duỗi cong cũng thuận phép tùy nghi.

     

    Tuổi gần bảy mươi, đã đến lúc huyền xa dừng bước; Thời vừa tháng tám, bỗng một khi gió bão đầy trời.

     

    Ôi đau đớn thay!

     

    Khó lường thiên đạo; Khôn đoán hóa cơ!

     

    Mệnh rắp mong Bắc đẩu; Thân lại gửi Nam ky.

     

    Tạo phúc muôn dân vẫn còn ấp ủ; Kinh luân mưu lớn chưa kịp thực thi.

     

    Ôi thương tiếc thay!

     

    Thái Sơn đã đổ chừ, tiểu tử đơn độc; Rường cột đã mục chừ, tiểu tử chơi vơi.

     

    Trướng da hổ ngọc âm nghe phảng phất; Nơi giảng đường vắt vẻo chiếc xiêm y.

     

    Trên bệ gió xuân, khó được ngày hầu hạ; Tuyết rơi trước cửa, chẳng gặp lúc cận kề.

     

    Ôi bi thương thay!

     

    Chóng tan sương giá; Mãi hận tuyền đài.

     

    Sương mờ giăng khắp mặt hồ, sầu muộn nhìn mây tụ tán; Sương khói phủ đầy bến nước, bàng hoàng níu kéo linh nhi.

     

    Nhớ ngày trước gặp nhau, tay bắt mặt mừng, hân hoan vui vẻ; Ngẫm hôm nay đưa tiễn, bùi ngùi buồn bã, mắt mũi đầm đìa.

     

    Ôi bi ai thay!

     

    Hạnh đàn rồng đi mất; Hoa biểu hạc quay về.

     

    Lòng muốn tìm chừ khó thể; Dấu muốn thăm chừ khôn truy.

     

    Ngóng về Đông ấp quê xưa, nỗi niềm không nơi gửi gắm; Dõi mắt Khương đình nhà mới, nghẹn ngào sầu lệ lưng mi.

     

    Nhớ ơn sâu giáo dưỡng chừ, mảy may chưa báo; Nghĩ đức lớn tác thành chừ, canh cánh niềm tây.

     

    Lễ sơ vật mọn, ngụ tấc lòng trong ai cảm; Thiên kinh địa nghĩa, tỏ ân đức với muôn đời.

     

    Ôi đau xót thay!

     

    Chú thích

     

    (1) Huân trì: hai thứ nhạc cụ thời xưa thường thổi hòa âm với nhau. Chỉ tình anh em, bạn bè hòa kính.

     

    (2) Câu này lấy ý từ Luận ngữ-Công Dã Tràng: Nguyện xa mã, ý khinh cừu, dữ bằng hữu cộng, tệ chi nhi vô hám (Tôi nguyện có xe mà đi, có ngựa mà cưỡi, có áo chiên mịn mà mặc, và để chúng bạn cùng hưởng, dẫu đến hư nát cũng chẳng buồn).

     

    (3) Xư âm: bóng cây xư. Xư là một loại cây không dùng được vào việc gì, nên dùng để tự nói nhún mình (như nói “kẻ bất tài này”).

     

    (4) Mã chẩm: gối tròn của Ôn Công. Tư Mã Ôn Công tức Tư Mã Quang, tự Quân Thực, người đất Thiểm Châu nhà Tống. Ông là người ham học, khi nằm đọc sách dùng gối gỗ tròn gọi là “cảnh chẩm” (gối đánh thức) phòng khi ngủ quên gối tròn lăn đi, tỉnh dậy tiếp tục đọc sách; Xa nang: túi đựng đom đóm của Xa Dận. Xa Dận người đất Nam Bình nhà Tấn, tự Vũ Tử, thuở nhỏ chăm học, đêm ngày không biết mệt mỏi. Nhà nghèo thường không có dầu để thắp, mùa hè phải bắt đom đóm cho vào một cái túi lấy ánh sáng đọc sách. Sau làm đến chức Lại bộ Thượng thư.

     

    (5) Nhị Dậu: hai núi Đại Dậu Sơn và Tiểu Dậu Sơn, tương truyền hang đá trong núi có hàng ngàn quyển sách.

     

    (6) Lục trù: hòm sách của Lục Cơ. Lục Cơ, người Ngô Quận nhà Tấn, tự Sĩ Hành, tinh thông Nho thuật, nổi tiếng văn thơ; Đỗ khố: kho sách của Đỗ Hựu. Đỗ Hựu người thời Vạn Niên nhà Đường, tự Quân Khanh. Ông thích đọc sách, có soạn bộ Thông điển gồm hai trăm quyển khảo những sự việc từ nhà Đường trở về trước.

     

    (7) Bát văn: tức Bát cổ văn, một thể văn dùng trong khoa cử thời Minh Thanh, mỗi thiên gồm tám bộ phận cấu thành: phá đề, thừa đề, khởi giảng, nhập thủ, khởi cổ, trung cổ, hậu cổ, thúc cổ. Đề mục chủ yếu lấy từ Tứ thư, nội dung cũng phải căn cứ vào Tứ thư tập chú của Chu Hy thời Tống.

     

    (8) Báo biến: Kinh Dịch có câu Quân tử báo biến (đấng quân tử như beo đổi vằn), ý nói văn vẻ sặc sỡ hiện ra bên ngoài. Ở đây dùng chỉ tài văn chương.

     

    (9) Loan pha: nơi vua ngự.

     

    (10) Thanh luân: tơ xanh, chỉ lời nói, mệnh lệnh của vua hoặc những điều do vua chế định. Kinh Lễ có câu Vương ngôn như ti, kỳ xuất như luân (lời vua nói như tơ, ảnh hưởng ra như sợi lớn).

     

    (11) Ô phủ: Hán thư có ghi: “Những cây bách trong phủ Ngự sử thường có hàng ngàn con quạ, sáng bay đi tối bay về.” Về sau dùng chỉ phủ Ngự sử.

     

    (12) Cam đường: Chu Thiệu Công thi hành chính sự của Văn Vương ở phương nam, trị chính khuyến nông, thường ngồi xử kiện dưới bóng cây cam đường, cảm hóa được trăm họ. Nhân dân cảm mến ông nên đặt bài thơ Cam đường để ca tụng công đức.

     

    (13) Cửu lão: chín ông già. Tục thông chí chép: Bạch Cư Dị khi đang làm Hình bộ Thượng thư xin về ở ẩn chùa Hương Sơn, tự xưng Hương Sơn cư sĩ, kết giao với Hồ Cảo, Cát Đông, Trịnh Cứ, Lưu Chân, Trương Hồn, Địch Kiêm Mô, Lư Trinh, Yên Tập đều là những danh sĩ cao tuổi. Người đời hâm mộ vẽ bức tranh chín cụ già gọi là Cửu lão đồ.

     

    (14) Ky Vỹ: hai ngôi sao trong nhị thập bát tú. Trang tử có câu: Phó Duyệt đắc chi, dĩ tương Võ Đinh, yêm hữu thiên hạ, thừa đông duy, kỵ ky vỹ, nhi hóa liệt ư tinh (Phó Duyệt có đạo mới giúp được Võ Đinh thống trị thiên hạ, khi chết ngồi trên sao Đông duy, cưỡi sao Ky sao Vỹ ở cùng các ngôi sao khác), về sau dùng chỉ cái chết.

     

    (15) Cục thiên tích địa: kinh Thi có câu: Vị thiên cái cao, bất cảm bất cục; Vị địa cái hậu, bất cảm bất tích (nói trời là cao, chẳng dám không khum chân; nói đất là dày, chẳng dám không đi chậm), ý nói lo sợ vì loạn lạc hoặc có tai biến.

     

    (16) Canh tường: Hậu Hán thư chép: “Xưa, sau khi vua Nghiêu chết, ông Thuấn tưởng nhớ, khi ngồi cũng thấy nơi tường, khi ăn cũng thấy nơi canh.”

     

    (17) Xuất cốc thiên kiều: kinh Thi có câu Xuất tự u cốc, thiên vu kiều mộc (ra từ hang tối, bay lên cây cao), ý nói chim còn biết chọn chỗ cao, huống chi người. Nay dùng tỏ ý phấn đấu lên chỗ cao thượng, vinh hiển.

     

    (18) Phạt mộc: một thiên thuộc phần Tiểu nhã trong kinh Thi, nội dung nói về kết bạn và hậu đãi bạn bè.

     

    (19) Câu này lấy ý từ Kinh Dịch: Hồng tiệm vu lục, kỳ vũ khả dụng vi nghi (Con chim hồng tiến trên đất liền, lông nó có thể dùng làm đồ nghi sức), dùng chỉ thái độ cao thượng của người hiển đạt.

     

    (20) Huyền xa: trời sắp tối dừng xe nghỉ ngơi, dùng chỉ quan lại trí sĩ.

     

    (21) Chiên đường: nhà học, còn gọi đàn tự nghĩa là giảng đường. Hậu Hán thư chép: Có con chim sẻ đầu có mào (quan tước) ngậm ba con cá chiên bay đến đậu trước nhà học. Người trưởng tràng ra lấy cá dâng lên thầy, nói: “Loài rắn và cá chiên tượng về hàng quan Khanh-Đại phu. Nay số lên ba tức là Tam công (Thái sư, Thái phó, Thái bảo). Tiên sinh chức quan từ đây mà thăng tiến.”

     

    (22) Linh nhi: xe đưa tang.

     

    (23) Hạnh đàn: nơi Khổng Tử dạy học. Đời Hán, Minh Đế thường đến đây, người đời sau nhân thế mà dựng điện. Đời Tống, Nhân Tông mở rộng sân điện, xung quanh trồng nhiều cây hạnh, dựng nhà bia khắc hai chữ triện “Hạnh đàn”.

     

    (24) Hoa biểu: cái cột đá ở trên mộ. Đình Lệnh Uy ngày xưa chết đi, hồn hóa làm con chim hạc, đêm thường bay về đậu ở đó.

     

     

     

    TÓM TẮT

     

                Dụ tế huân thần là một tuyển tập gồm 19 bài văn tế bằng chữ Hán. Tất cả đều chưa được dịch sang tiếng Việt. Trong bài viết này, chúng tôi giới thiệu sơ lược nguồn gốc, đặc điểm văn bản và một số đặc điểm nổi bật về nghệ thuật của Dụ tế huân thần như thể tài, giọng điệu, ngôn ngữ, các biện pháp tu từ…; sau đó tuyển dịch, chú thích ba tác phẩm tiêu biểu để minh họa cho những đặc điểm nghệ thuật ấy. Tác phẩm tuyển dịch bao gồm: Tế Vũ tướng công văn (Lê Quý Đôn soạn), Bảng trung hầu tế tâm hữu Thuần trung hầu văn, Tế tôn sư Tả thị lang văn.

     

     

     

    ABSTRACT

     

    Dụ tế huân thần (The funeral oration by order of The King to sacrifice the royal servant)  is the collection including 19 Chinese funeral orations. Those all have been not translated into Vietnamese. In this article, may I generally introduce about the origin, character of the texts as well as some of the artic special particularity of Dụ tế huân thần such as genre, tone, language, rhetoric method, etc. After that, choosy translating and annotating three typical works to demonstrate the above mentioned artic manners. The works which were selected to translate involve: Tế Vũ tướng công văn (The funeral oration to great mandarin named Vu, by Le Qui Don), Bảng trung hầu tế tâm hữu Thuần trung hầu văn (The funeral oration by Bang trung hau to sacrifice my dearing friend Thuan trung hau) , and Tế tôn sư Tả thị lang văn (The funeral oration to Ta thi lang master).

     

     

    NGUYỄN ĐÔNG TRIỀU[1]


    [1] ThS, Khoa Văn học và Ngôn ngữ, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn – ĐHQG TP.HCM


    Nhắn tin cho tác giả
    Phan Quốc Tuấn @ 19:29 17/09/2012
    Số lượt xem: 1665
    Số lượt thích: 0 người
    Avatar

    văn tế Hán Nôm

     
    Gửi ý kiến

    you tobe

    Thử code


    BẢNG THỬ CODE